Thứ Hai, 30 tháng 12, 2019
Bài 5: Binding to attributes in vuejs
By
thelam92
01:03
1. code html
- ở đây tôi thêm 1 link trang wikipedia thông qua thẻ a - các bạn chú ý: + ở đây không sử dụng được cú pháp {{}} để binding thuộc tính của thẻ (thuộc tính href của thẻ a). + mà phải sử dụng cú pháp v-bind:href. v-bind là 1 directive trong vuejs. + khi sử dụng cú pháp v-bind:href thì chỉ cần fill tên 'link' chứ ko cần cú pháp {{}} nữa.2. code javascript
- trong file js tôi định nghĩa 1 cái link trong data property của Vue object.3. kết quả
- khi click vào wikipedia, ta có kết quả như sau.Happy coding!
Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019
Một số tác phong của người Nhật
By
thelam92
02:00
I.
Tác phong làm việc là gì?
Tác phong được hiểu
là sản phẩm nhận thức và tư duy khoa học của con người, phản ánh hành vi ứng xử
của con người với công việc và trong giao tiếp xã hội. Hay nói cách khác, tác
phong là lề lối, cách thức, phong thái đã trở thành nền nếp ổn định của con người.
Nó được thể hiện rất rõ trong tất cả các hoạt động như lao động, học tập, sinh
hoạt, tạo nên những nét riêng biệt của một
chủ thể. Tác phong là cách thức, lối làm việc và cách sống riêng của mỗi
một con người. Tác phong không phải là tự sinh ra là có, mà nó được hình thành
và phải trải qua một quá trình nhận thức, được rèn luyện lâu dài trong môi trường
xã hội.
Tác
phong làm việc là gì?
Nếu như bạn hiểu được
2 từ “ tác phong” rồi thì việc hiểu 4 từ “ tác phong làm việc” không phải khó.
Từ những nhận xét trên, bạn có thể hiểu khái niệm “tác phong làm việc” là một bộ
phận trong tác phong của con người, nó thể hiện ở cách thức, lề lối tiến hành
và giải quyết công việc của một con người cụ thể. Mỗi người có những tác phong
riêng khác biệt, nhưng cũng cần phải lấy những điểm nòng cốt làm nền. Không được
học những tác phong xấu và mang lại nhiều ảnh hưởng không tốt đến những người
khác xung quanh.
II.
Tác phong làm việc: Luôn đúng giờ
Cả thế giới nghiêng đầu
bái phục con người và đất nước Nhật Bản bởi họ sống vô cùng nguyên tắc và luôn
đúng giờ mọi lúc, mọi nơi và đúng giờ được xem như là thói quen trong cuộc sống
của người Nhật Bản.
Tại các công sở hay
các công ty của Nhật Bản thì giờ giấc làm việc của người Nhật cũng là tiêu chí
đánh giá nhân viên. Họ sẽ không được phép đến muộn dù chỉ là 1 phút. Với những
người đi muộn sẽ phải chịu có những hình thức kỷ luật rất cao: Có thể bạn có thể sẽ mất việc hoặc sẽ dậm
chân tại chỗ trong công việc. Ngược lại nếu bạn luôn đi làm đúng giờ bạn sẽ được
xếp vào danh sách những người làm việc cần mẫn và có triển vọng. Nếu kết hợp cả
thái độ, trách nhiệm và chất lượng công việc tốt thì cơ hội thăng tiến của bạn
trong công ty hoàn toàn thuận lợi hơn rất nhiều.
Người Nhật còn quan
niệm làm việc gì cũng phải đúng giờ giấc và điêù này còn thể hiện sự tôn trọng đối với người gặp gỡ và làm việc,
hợp tác cùng mình. Chính vì vậy các bạn nên tìm hiểu giờ giấc làm việc của người
Nhật sẽ giúp các bạn dễ dàng hòa nhập với phong cách làm việc tại đây.
Để lý giải điều đó, cần
đứng trên nhiều góc để nhìn nhận.
1. Nhật
Bản là nước có phát triển, hệ thống máy móc hỗ trợ tiên tiến.
Giờ giấc làm việc của
người Nhật được tuân thủ mọi lúc, mọi nơi, mọi đối tượng, mọi ngành nghề. Nếu bạn
đi muộn, bạn cũng không thể viện cớ vì lý do tàu xe được. Bởi vì ở Nhật Bản
phương tiện đi lại chủ yếu là tàu điện ngầm. Và các nhà tàu ở Nhật luôn có ý thức
sắp xếp thời gian để mỗi chuyến tàu luôn có số người đông nhất và giờ đi giờ đến
chính xác đến từng giây. Sự sai lệch giờ giấc của Nhật bản là nhỏ nhất thế giới.
Dù với các phương tiện công cộng như tàu điện ngầm hay xe bus cũng
chỉ bị trễ 7 giây trong 1 năm. Theo thống kê, tổng cộng trong 50 năm, đội
tàu Shinkansen đã chuyên chở hơn 10 tỉ hành khách. Thời gian trễ
chuyến trung bình mỗi ngày trên tất cả tàu cao tốc Nhật là 36 giây. Với hệ thống
phương tiện giao thông phát triển, góp phần hỗ trợ người Nhật vào thói quen của
mình, thói quen tuân thủ giờ giấc.
2. Thói
quen tránh làm phiền người khác
Cùng với tư duy,
tránh làm phiền người khác "không làm phiền" (迷惑しない Meiwaku shinai), họ luôn cố gắng để không gây ra hành động
được coi là làm phiền. Ví dụ như: Làm gián đoạn công việc của người khác khi họ
đang tập trung, hay những hoạt khác mà theo bạn có thể gây tổn hại, khó chịu
cho người khác. Việc tuân thủ thời gian cũng là một hành động không làm phiền
người khác.
Giả sử: Trong một cuộc
họp, nếu bạn đi muộn. Bạn sẽ khiến tất cả mọi người phải chờ. Hơn nữa, cũng vì
một mình bạn mà không khí trong công ty cũng bị nên xấu đi. Do vậy tới trễ hẹn
được coi là hành vi thiếu lịch sự, làm tổn hại tới người khác. Việc đúng giờ là
điều nên làm trong mọi tình huống. Điều này có thể dễ dàng nhận thấy khi đối chiếu lịch trình giờ tàu chạy với
điểm thời gian thực tế mà tàu đến ga, hoặc khi sắp xếp một cuộc hẹn với người
Nhật và luôn thấy họ đến trước giờ hẹn ít nhất 5 phút. Thói quen đó ăn sâu vào
mỗi cá nhân và dần trở thành một quy tắc ngầm, một ý thức cơ bản. Người Nhật
luôn tránh làm phiền người khác.
3. Chủ
nghĩa tập đoàn
Xã hội Nhật Bản luôn
hướng tới sự đồng tâm hợp lực để đạt kết quả cao chứ không đánh giá cao vai trò
của cá nhân. Tư tưởng này được thấm nhuần từ trẻ nhỏ và đã hình thành nên thói
quen của người Nhật Bản. Người Nhật đã được học cách phối hợp để làm việc, nỗ lực
làm việc nhằm đạt mực tiêu chung của cả tập thể. Tinh thần đồng đội, đồng nghiệp giúp tạo nên thành công của
tập thể. Việc giỏi phối hợp, đoàn kết với nhau khi làm việc giúp họ thành công
chứ không phải sự vượt trội xuất thần của một cá nhân. Vì vậy trong việc tuân
thủ thời gian là một cách thúc đẩy tập thể phát triển, luôn hướng tới kết quả
công việc một cách tốt nhất. Không để mình là cá nhân làm ảnh hưởng đến kết quả
công viêc, mỗi thành viên nỗ lực, thực hiện nguyên tắc xây dựng tập thể vững mạnh.
Bên cạnh đó, cùng suy nghĩ “ không muốn mình khác biệt” thì việc trễ nãi giờ giấc
khi tất cả tập thể thành viên tuân thủ giờ giấc, quy định là không những là thất
lễ mà còn có trường hợp làm mất uy tín cá nhân.
So
với Việt Nam:
Vấn đề đúng giờ: Đúng giờ là yếu tố rất được tôn trọng trong các cuộc gặp
gỡ ở Nhật. Người ta không cần đến sớm để thể hiện sự tôn trọng nhưng càng không
nên đến muộn vì đó là hành động bất lịch sự. Người Việt thì khác, họ có thể xê
dịch giờ hẹn đôi chút và điều đó không trở thành vấn đề lớn.
“Không ăn đậu không
phải Mễ, không đi trễ không phải Việt Nam”.
Người Việt chúng ta có hai huyền thoại vẫn thường được nhắc đi nhắc lại liên quan đến việc đi trễ. Thứ nhất là chuyện ông Táo về chầu trời, sớ Táo Quân hầu như bao giờ cũng vậy, sau lời chào chúc thọ ra mắt Ngọc Hoàng là lời xin lỗi vì..., vì... nên Táo Việt tới trễ, đến độ quần áo cũng không mặc chỉnh tề! Chứ táo thì lúc nào cũng ngây thơ vô tội. Thứ hai là chuyện Sơn Tinh-Thủy Tinh, Thủy Tinh tới trễ không lấy được vợ, đã không biết lỗi mình lại đâm ra ghen tức, dâng nước lên đánh nhau triền miên với Sơn Tinh... Trong thực tế xã hội, có khi chuyện đi trễ cũng trở thành một nguyên nhân của hiềm khích.
Thói đi trễ chỉ là một phần nhỏ, phần nổi của tảng băng sơn bao hàm toàn bộ cá tính của người Việt. Phải chăng trong những cá tính tốt vui vẻ, dễ dãi, người Việt còn mang tinh thần đại khái, không nghiêm chỉnh, không chính xác, không giữ lời hứa, thiếu trách nhiệm, hay quá ư là ham vui ngay cả trong khi làm việc...
Người Việt chúng ta có hai huyền thoại vẫn thường được nhắc đi nhắc lại liên quan đến việc đi trễ. Thứ nhất là chuyện ông Táo về chầu trời, sớ Táo Quân hầu như bao giờ cũng vậy, sau lời chào chúc thọ ra mắt Ngọc Hoàng là lời xin lỗi vì..., vì... nên Táo Việt tới trễ, đến độ quần áo cũng không mặc chỉnh tề! Chứ táo thì lúc nào cũng ngây thơ vô tội. Thứ hai là chuyện Sơn Tinh-Thủy Tinh, Thủy Tinh tới trễ không lấy được vợ, đã không biết lỗi mình lại đâm ra ghen tức, dâng nước lên đánh nhau triền miên với Sơn Tinh... Trong thực tế xã hội, có khi chuyện đi trễ cũng trở thành một nguyên nhân của hiềm khích.
Thói đi trễ chỉ là một phần nhỏ, phần nổi của tảng băng sơn bao hàm toàn bộ cá tính của người Việt. Phải chăng trong những cá tính tốt vui vẻ, dễ dãi, người Việt còn mang tinh thần đại khái, không nghiêm chỉnh, không chính xác, không giữ lời hứa, thiếu trách nhiệm, hay quá ư là ham vui ngay cả trong khi làm việc...
Các nguyên nhân đi trễ?
Có 70-80% người Việt
sống bằng nghề nông, nên quen tính toán bằng mắt và bằng kinh nghiệm, quen tinh
thần đại khái chứ không quen chính xác. Lối nói "sào ruộng" nay vẫn
còn tồn tại, có lẽ không mấy ai biết đích xác diện tích 1 sào ruộng là bao
nhiêu? Giờ giấc chỉ nhắm chừng, kiểu giờ thìn, giờ ngọ... mà mỗi giờ này là 2
giờ đồng hồ bây giờ, hay mặt trời lên lưng ngọn sào, tàn cây nhang... Người có
trách nhiệm thường là người đa đoan, bận rộn nhiều công việc, có khi lớn tuổi
thì nhớ trước quên sau. Coi chuyện họp hành cộng đồng là không quan trọng, đến
giờ nào cũng được, nhất là phần đầu thường là nghi thức rườm rà. Còn phần cuối
coi như tàn cuộc, chỉ là chuyện linh tinh, không cần có mặt...Không nhớ rõ giờ
và địa điểm, hoặc mới đi lần đầu nên mất nhiều thời gian hơn dự tưởng. Đôi khi
giờ phút chót gặp chuyện trục trặc ngoài ý muốn.
III.
Tác phong làm việc: Luôn gọn gàng
Qua Nhật làm việc, mọi
người sẽ thấy hầu hết các nhân viên người Nhật thường có thói quen đến giờ làm sớm
hơn từ 5 – 15p. Trong thời gian đó, công việc đầu tiên họ thường làm đó là sắp
xếp lại góc làm việc của mình.
Đối với người Nhật,
việc sắp xếp lại góc làm việc không chỉ đơn thuần là một thói quen để giúp mọi
thứ trở nên ngăn nắp, sạch sẽ hơn, mà trên hết đó cũng là cách để họ giữ bộ mặt
cho công ty của họ. Việc các khách hàng ghé thăm công ty và ngắm nhìn sự ngăn nắp,
gọn gàng ở các góc làm việc cũng là một ấn tượng tốt để họ thêm tin tưởng vào sự
làm việc chuyên nghiệp của nhân viên và doanh nghiệp nơi đây.Sắp xếp bàn làm việc
giúp tiết kiệm hơn 1h đồng hồ mỗi ngày
Theo thống kê của báo
“ Wall Street Journal “, nếu mỗi ngày làm 8 tiếng đồng hồ, chúng ta sẽ tốn 1 giờ
cho việc tìm kiếm các vật dụng ở văn phòng. Như vậy, bạn đang đánh mất quá nhiều
thời gian cho những việc vô ích, bên cạnh đó việc tìm kiếm đồ đạc sẽ khiến bạn
không thể tập trung vào công việc chính của mình.
5S* là phương pháp
làm việc do người Nhật Bản thiết lập và đã trở thành công cụ hữu hiệu giúp bạn
dễ dàng hòa nhập, tạo dựng sự tin tưởng ở môi trường làm việc. Chính phương pháp
5s này đã tạo nên một đất nước nổi tiếng về tinh thần kỷ luật, ý thức tự giác,
gọn gàng trong công việc
Nguyên
nhân:
1.
Tính
trách nhiệm, ý thức công việc
5S là một phương pháp rất đơn giản nhưng lại vô cùng hữu
dụng, mang lại hiệu quả cao trong thực tế. Việc thực hiện 5S trong cơ quan, tổ
chức là vô cùng cần thiết bởi chính lợi ích mà phương pháp này mang lại, cụ thể
Giúp nơi làm việc trở nên sạch sẽ và ngăn nắp hơn. Khi
môi trường làm việc được dọn dẹp sạch sẽ, gọn gàng sẽ thuận tiện hơn cho mọi
người trong quá trình làm việc, đồng thời môi trường sạch sẽ giúp nhân viên sảng
khoái tinh thần và tạo đà cho năng suất lao động được nâng lên, cũng như đảm bảo
sức khỏe cho người lao động.
Tăng cường kỷ cương, kỷ luật tập thể. Việc duy trì những
thói quen tốt như: tự giác, chủ động, … sẽ tạo ra kỷ luật chung cho tập thể, nhờ
đó văn hóa tổ chức cũng tăng lên, nâng cao tinh thần tập thể, tạo ra sự hòa đồng,
giúp mọi người làm việc có thái độ tích cực, có trách nhiệm và ý thức trong
công việc.
Nâng cao năng suất lao động: Nhân viên tự hào về tổ chức,
từ đó có thái độ tích cực, trách nhiệm và ý thức hơn trong công việc, giúp thúc
đẩy năng suất lao động tăng lên. Đồng thời môi trường làm việc sạch sẽ, gọn
gàng cũng giúp tổ chức tận dụng tối đa thời gian, hỗ trợ lớn cho việc tăng hiệu
quả công việc.
2.
Sự
cẩn thận, tỉ mỉ, chu đáo
Người Nhật cẩn thận, tỉ mỉ thế nào.
Tại một nơi có cư dân nhiều nước sống, nhưng chỉ cần
thoạt nhìn dàn phơi quần áo là biết ngay nhà đó là người Nhật hay người nước
khác.
Đứng soi dàn quần áo nhà người ta thì thật bất nhã,
người Nhật phơi quần áo khá đẹp, dàn toàn một loại khăn cùng nhau, dàn toàn áo
sơ mi trắng… mỗi chiếc mắc áo lại được kẹp bởi một chiếc kẹp cố định vào cọc
phơi, làm cho nó luôn thẳng góc, không quay ngang quay ngửa khi gặp gió. Vào
nhà của người Nhật tuột giày ra phải xếp gọn gàng, hướng mũi giày ra cửa chứ
không phải đặt nó ngang ngửa thế nào cũng được.
Việt
Nam:
IV.
Tác
phong làm việc: Thói quen báo cáo
Là một nước rất nghèo về tài nguyên, động đất nhiều nhất
thế giới, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ sau Thế Chiến thứ II. Vậy bằng cách nào
Nhật Bản có thể nhanh chóng phục hồi và tăng trưởng thần kỳ, trở thành nước có
tiềm năng lớn thứ hai trên thế giới về kinh tế, khoa học kĩ thuật và tài chính?
Một phần không thể phủ nhận chính nhờ những bí quyết
có một không hai, giúp người Nhật có được năng suất lao động cao bậc nhất thế
giới.
Nếu có cơ hội được tiếp xúc với phong cách làm việc của
Nhật Bản, ai cũng biết đến quy tắc Horenso trong làm việc nhóm. Chính nhờ bí
quyết này mà các công ty Nhật Bản luôn có phong cách làm việc nhóm cực kì
chuyên nghiệp. Bản thân khi tiếp xúc với người Nhật cũng sẽ thấy đều là những
người có tinh thần tập thể cao.
Đối với người Nhật, Horenso không chỉ là một phương
pháp truyền thông liên lạc nội bộ khi làm việc nhóm, mà còn là một nét văn hóa
đặc trưng của quốc gia.
*HoRenSo là từ viết tắt của ba chữ gồm: Hokoku: Nghĩa
là báo cáo; Renraku: Trao đổi và
Sodan: Hỏi ý kiến.
Trong công việc, phải báo cáo định kỳ cho cấp trên.
Thường xuyên trao đổi, bàn bạc với đồng nghiệp và cấp dưới. Cuối cùng là phải hỏi
ý kiến cấp trên trước khi quyết định làm gì đó. HoRenSo nghĩa là chủ động trong
công việc.
Bất cứ tổ chức nào của Nhật cũng tuân thủ thực hiện
phương pháp Horenso. Họ chỉ ra rằng chính Horenso là phương pháp ngăn ngừa rủi
ro một cách hệ thống nhất và hiệu quả nhất.
Với Horenso, tốt nhất là bạn nên tìm cách giải quyết
nhanh nhất nếu có thể các yêu cầu của khách hàng. Trong trường hợp cần thiết,
hãy chuyển yêu cầu cho cấp trên hoặc người có trách nhiệm giải quyết trực tiếp.
Nguyên nhân
1.
Tinh thần vì tập thể
Nếu như người Mỹ đề cao vai trò cá nhân thì người Nhật
lại coi trọng giá trị tập thể, luôn hướng đến sự đồng tâm hợp lực để đạt được kết
quả cao nhất.Nếu quá chú trọng đến vai trò cá nhân, một doanh nghiệp sẽ thất bại
vì mọi người chỉ quan tâm đến thành tích của riêng mình, thậm chí ai cũng muốn
trở thành "sao" nên bon chen, hẹp hòi với người khác. Họ không quan
tâm đến kết quả của công việc chung, không biết vì tập thể mà chỉ ích kỷ chăm
chăm thu vén cho mình. Như thế không có nghĩa tập thể là nơi cho những cá nhân
yếu kém "ẩn mình", ăn bám đồng nghiệp, vì thế, bạn phải biết cách cân
bằng giữa cá nhân và tập thể.
Trong công việc, phải báo cáo định kỳ cho cấp trên.
Thường xuyên trao đổi, bàn bạc với đồng nghiệp và cấp dưới. Cuối cùng là phải hỏi
ý kiến cấp trên trước khi quyết định làm gì đó. HoRenSo nghĩa là chủ động trong
công việc. Bằng việc thường
sử dụng phương pháp làm việc theo nhóm để tạo sự liên kết chặt chẽ cũng như
thúc đẩy sự cố gắng của mọi thành viên và đòi hỏi họ quan tâm đến nhiều nhiệm vụ
hơn là một nhiệm vụ cụ thể. HoRenSo
phát huy tinh thần đồng đội , làm việc theo team-work quan trọng.
Việt
Nam: Việt Nam cũng có những ưu điểm trong công việc, cần cù
lao động, sáng tao học tập . Người Việt được các dân tộc thừa nhận là có tinh
thần hiếu học, cộng với bản chất thông minh, nắm bắt mọi thứ một cách nhanh
chóng và vận dụng tốt, thực hành tốt. Tuy nhiên, tinh thần làm việc nhóm cũng
như coi trọng tinh thần tập thể chưa được đánh giá cao. Đối với thế hệ trẻ Việt
Nam, từ “teamwork” hẳn đã được nói đến nhiều, trên báo chí, trên mạng xã hội,
trong giao tiếp hàng ngày… nhan nhản người sử dụng. Nhưng đó mới chỉ là nhìn thấy,
là “nghe nói”, là áp dụng một cách nửa vời. Ít ai thực hiện teamwork theo đúng
nghĩa. Cũng bởi lý do này mà người Việt ít khi thành công trong những dự án đòi
hỏi tinh thần làm việc nhóm và sự hỗ trợ của nhiều bộ phận khác nhau, cũng như
cũng chưa có sự liên lạc – trao đổi – báo cáo tạo sự gắn kết thật sự giữa các bộ
phận.
Tóm
lại:
Nhật Bản là quốc gia không được thiên nhiên ưu ái về
nguồn tài nguyên. Không những thế, hằng năm Nhật Bản phải hứng chịu rất nhiều
các thảm họa tự nhiên như động đất, sóng thần, núi lửa,…. Chính sự khắc nghiệt
của thiên nhiên đã biến người Nhật Bản trở lên cứng cỏi, kiên trì, quật cường.
Nhưng ẩn sau những con người này vẫn là những người với ý thức trách nhiệm cao
với công việc và có thể kể đến ngững tác phong trong công việc vô cùng đáng ngưỡng
mộ: thói quen đúng giờ,
tác phong gọn gàng, thói quen báo cáo.... Qua đó, người lao động Việt Nam sẽ học hỏi rất nhiều điều bổ ích.
tác phong gọn gàng, thói quen báo cáo.... Qua đó, người lao động Việt Nam sẽ học hỏi rất nhiều điều bổ ích.
Nghiên_cứu_về_khái_niệm_甘え - amae
By
thelam92
01:52
“Amae”- Sự phụ thuộc trong xã hội
Nhật Bản
Mở đầu
Vào năm 49 thời Chiêu Hòa, bác sĩ Takeo Doi – Khoa thần kinh
học đã đưa ra thuật ngữ Amae như là một
khái niệm mới để lý giải về tâm lý con người Nhật Bản. Trong định nghĩa có viết
rằng“…ham muốn của một đứa bé được gần gũi mẹ…”, hơn nữa thuật ngữ Amae còn được
vận dụng một cách triệt để để lý giải các hoạt động đời sống của người Nhật và
cấu tạo xã hội Nhật Bản, chính vì điều này mà cuốn sách “ Giải phẫu sự phụ thuộc”
của ông đã trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất. Trong tiếng Nhật,
Amae là danh từ của động từ Amaeru được sử dụng rất nhiều trong đời sống hàng ngày.
Trong tiếng nước ngoài, hầu như không có từ ngữ nào tương đương với Amae, và
đây một khái niệm mà chỉ ở Nhật mới có. Ông cho rằng chính sự đặc biệt trong
ngôn ngữ tạo nên sự đặc biệt trong tâm lý người Nhật. Trong bài báo cáo này tôi
muốn trình bày khái niệm “amae” và sự xuất hiện của nó trong các mặt đời sống của
Nhật Bản từ xưa đến nay
Nội dung
1.「甘え」trong xã hội Nhật Bản
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản được thế giới biết đến
là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế một cách nhanh chóng.
Đó được gọi là thời kì kinh tế bong bóng của Nhật. Có được thành quả này chính
là do mối quan hệ xã hội đặc biệt và cấu trúc tinh thần của người Nhật. Đây là
một điều rất đáng tự hào đối với người dân Nhật. Tuy nhiên cũng giống như các
quốc gia phát triển khác, Nhật Bản đã rơi vào tình trạng bong bóng “nổ”, cấu
trúc xã hội Nhật Bản bị phá vỡ do nền kinh tế phát triển quá nhanh. Khoảng nửa
sau những năm 80 nền kinh tế Nhật Bản rơi vào tình trạng trì trệ, chính trị hỗn
loạn, xã hội nảy sinh rất nhiều những vấn đề. Cùng với đó quyền lực của thần
giáo và phật giáo cũng yếu đi, thay vào đó quyền lực của những đạo mới như chân
lý giáo ngày càng mạnh hơn. Có thể cảm nhận rõ sự phát triển quá nhanh của nền
kinh tế đã gây ảnh hưởng lên các mặt đời sống, xã hội Nhật Bản. Tôi xin phép được
trình bày rõ khái niệm甘え(Amae) trong các mặt của xã hội Nhật
Bản.
1.1 Mối quan hệ甘え trong xã hội Nhật Bản
Cấu tạo xã hội Nhật Bản là xã hội chiều dọc「タテ社会」, khái niệm này được biết đến rộng rãi nhờ vào cuốn “Quan
hệ con người trong xã hội chiều dọc”「タテ会社の人間関係」của nhà nhân chủng học Nakae Chie (中根千枝- 1976) biểu thị nét đặc thù trong quan hệ con người
trong xã hội Nhật Bản. Nakae cho rằng đơn vị cơ bản cấu thành nên xã hội Nhật
chính là những nhóm có cùng chung một “nơi chốn” và quan hệ giữa người với người
trong nhóm được kết nối với nhau ưu tiên theo quan hệ chiều dọc. Và tổ chức này
bắt đầu hình thành nên từ mối quan hệ cơ bản nhất- quan hệ cha mẹ và con cái.
Hiện nay vẫn còn tồn tại mối quan hệ xã hội theo chiều dọc tại
Nhật Bản. Đối với những người mới vào công ty, mối quan hệ với cấp trên cũng
quan trọng giống như một người cha. Đôi bên dành cho nhau sự tín nhiệm, tin tưởng.
Cấp dưới tin tưởng sự chỉ đạo và hỗ trợ của cấp trên, ngược lại cấp trên tín
nhiệm cấp dưới vì đã giúp đỡ mình. Người đóng vai trò làm “cha” đây chính là
người có trách nhiệm chăm sóc cấp dưới. Bên cạnh đó, cấp dưới luôn luôn cảm thấy
biết ơn, và trung thành với cấp trên của mình. Chình vì thế, ở các công ty của
Nhật, để bày tỏ sâu sắc lòng biết ơn, sự trung thành của mình đã xuất hiện những
chế độ như 「年功序列」(Danh sách chế độ thâm niên)「終身雇用」( Làm việc suốt đời) với mục đích cuối cùng là cống hiến
toàn bộ cho công ty. Cũng từ đó cụm từ「甘え」(sự
phụ thuộc lẫn nhau) bắt đầu xuất hiện trong các công ty. Ngoài ra còn xuât hiện
chế độ 稟議( Đạt đến một quyết định bởi việc sử dụng một thông tri; đạt
đến một quyết định thông qua một tài liệu lưu thông tới tất cả các người làm
thuê). Qua đó, có thể thấy quyết định của một
tập thể phản ánh nguyện vọng, ý kiến của từng thành viên trong đó, từ đó có thế
điều hòa mọi công việc trong công ty. Kết quả là tất cả các thành viên trong
công ty có thể Amaeru lẫn nhau.
Kể từ sau chiến tranh, Nhật Bản rơi vào tình trang phát triển
trì trệ, cấu trúc công ty cũng bắt đầu thay đổi. Hơn nữa, các mối quan hệ trong
công ty và tinh thần của salary man (những người làm thuê cho các công ty) cũng
bắt đầu thay đổi. Ở các nước Âu Mỹ, hoàn toàn không có chế độ làm việc suốt đời
giống như Nhật Bản , vì chi phí nhân sự cho những người già mà có hiệu suất làm
việc thấp tăng quá cao nên họ đã cho thôi việc. Gần đây, Nhật Bản cũng bắt đầu có
xu hướng như vậy. Khi môi trường trong công ty không an toàn nữa, các salary
man sẽ cảm thấy buồn, cô đơn như một đứa trẻ khi phải rời xa mẹ, không thể
amaeru được nữa. Đặc điểm tính cách của Salary man Nhật Bản luôn gắn chặt với mối
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa cấp trên và cấp dưới. Khi tính cạnh tranh và sa
thải du nhập vào trong các công ty, sự tin tưởng, tín nhiệm của cấp dưới đối với
thành phần cha mẹ dần dần bị mất đi,quyền lực cũng vì thế mà yếu đi. Khi tình
trạng này tiếp tục xảy ra, sự cân bằng mối quan hệ chiều dọc cũng sẽ mất đi,
salary man bị áp lực chồng chất, nảy sinh bất mãn với công việc, rơi vào tình
trạng không biết đặt niềm tin vào đâu. Khi cấu trúc tập thể mất đi tính đặc thù
của nó thì cấu trúc này cũng sẽ bị phá vỡ. Hơn nữa, khi tinh thần của Salary
Man bị suy sụp sẽ ảnh hưởng đến cả các mặt của đời sống gia đình.
1.2 「甘え」 trong gia đình
Bên cạnh là một thành viên trong các tập thể như công ty, Salaryman
còn là một trong những thành viên tạo nên cấu trúc gia đình. Khi một thành viên
trong gia đình đánh mất sự cân bằng trong tinh thần sẽ gây ảnh hưởng tới tất cả
các thành viên còn lại. Sau thời kì phát triền kinh tế cao độ, các salaryman hầu
hết cho rằng công việc quan trọng hơn gia đình. Tuy nhiên khi nền kinh tế rơi
vào tình trạng trì tệ thì cách suy nghĩ ấy đã dần thay đổi. Sự thay đổi ấy ảnh hưởng
lên đời sống gia đình lẫn mối quan hệ của các thành viên trong gia đình. So với
ngày xưa, cấu trúc gia đình Nhật Bản được cho là đã bị phá vỡ.Có thể hiểu được
lý do nó bị phá vỡ thông qua mối quan hệ Amae (phụ thuộc lẫn nhau) giữa các
thành viên. Như đã nói ở trước, giống như công ty, gia đình cũng là 1 tổ chức
theo chiều dọc, có các tầng lớp bên trong. Trong cấu trúc gia đình truyền thống,
người nắm quyền lực lớn nhất chính là người cha, quyền lực của người cha sẽ chi
phối các thành viên còn lại. Ngược lại, người cha cũng có trách nhiệm bảo vệ
toàn bộ các thành viên còn lại, để mọi người có thể phụ thuộc (amaeru). Nói tóm
lại, cấu trúc gia đình được bảo đảm bằng chính mối quan hệ amae giữa cha mẹ và
con cái, trong đó quyền lực tập trung vào tay người cha.
Sự biến đổi trong tâm lý Salaryman và sự phát triển của xã hội
đã phá vỡ đời sống gia đình. Tình trạng làm thêm giờ tại các công ty của Nhật-
nói cách khác là việc ở lại cho đến tối muộn mỗi ngày tại công ty, làm việc vào
cả ngày nghỉ và tập quán đi ăn uống với đồng nghiệp đã khiến các salary man
không còn sống cuộc sống của một con người nữa. Đó là một cuộc sống thực sự
không có ý nghĩa và không còn thời gian nghỉ ngơi. Chính vì thế rất nhiều các
nhân viên trẻ tuổi tâm sự rằng tâm trạng trở nên xấu đi, suy nghĩ tiêu cực ngày
càng nhiều. Họ cần một chế độ sống giống với con người hơn. Không chỉ trong đời
sống mà cơ cấu xã hội cũng bị biến đổi. Tức là ý thức, chủ nghĩa tập thể như “làm
việc suốt đời” đang ngày càng suy yếu. Như tôi đã trình bày trước đó,vì tập thể
không thể bảo vệ được Salary man nên Salary man mang trong mình sự hoang mang của
đứa trẻ bị lạc. Muốn được Amaeru vào( nương tựa, phụ thuộc) công ty nhưng lại
không thể, cấu trúc tinh thần của Salary man dần dần bị phá vỡ. Mặc dù là người
trụ cột của gia đình, là chồng, là cha nhưng năng lượng tinh thần lẫn năng lượng
nên sử dụng trong các công việc gia đình cũng ngày càng kiệt quệ. Thêm vào đó,
việc làm thêm và làm việc vào cả ngày nghỉ dẫn đến người cha khi trở về nhà thì
đã khuya rồi, chỉ đủ thời gian vệ sinh cá nhân và đi ngủ. Thời gian trò chuyện,,
giúp đỡ vợ trong việc nuôi dạy con cái dường như là không có. Một mình người vợ
đảm nhận các công việc trong nhà và nuôi dạy con. Con cái cũng dần quen với sự
vắng mặt của bố trong nhà. Cả vợ và con cái đều có thể làm tốt mọi chuyển kể cả
khi không có bố. Cứ như thế vai trò nuôi
dạy con cái của bố dần mất đi, thời gian nói chuyện với vợ con cũng ít và mong
muốn được chia sẻ với vợ cũng giảm xuống. Và bố trở thành người vô hình trong
nhà. Kết quả là quyền lực của bố trong nhà giảm đi đáng kể, phá vỡ cấu trúc gia
đình ban đầu. Rất nhiều người cho rằng quyền lực của bố bị mất đi là một trong
những nguyên nhân làm phá vỡ cấu trúc gia đình. Vậy khi những đứa trẻ không có
người quyên lực nhất – bố ở bên chúng sẽ phụ thuộc vào mẹ. Đối tượng amae lúc
này sẽ di chuyển từ bố sang mẹ.
Hơn nữa, trong gia đình mà bố người vô hình thì quyền lực của
bố sẽ yếu đi đồng thời lúc này quyền lực của mẹ đang này càng tăng lên. Theo
tác giả Takeo Doi, quan hệ Amae thuần
túy nhất đó chính là mốt quan hệ cha mẹ và con cái chứ không phải đứa trẻ với một
người ngoài. Vậy nên ở Nhật đây là một mối quan hệ rất lý tưởng, là thước đo
cho tất cả những mối quan hệ còn lại. Kể từ sau những năm 80, vì người Nhật rất
coi trọng học vấn nên vai trò cuả người mẹ được đánh giá thông qua sự thành
công trong việc nuôi dạy con cái. Ngay từ khi sinh ra, người mẹ ý thức cho con
cái về Amae, và những đứa trẻ con Nhật hoàn toàn phụ thuộc vào mẹ của chúng. Đồng
thời, người mẹ bắt đầu có vị trí trong xã hội và cũng phụ thuộc vào con cái. Vì
thế, giữa mẹ và con cái bắt đầu nảy sinh mối quan hệ Amae lẫn nhau. Vì mối quan
hệ Amae với người bố thường xuyên không xuất hiện bị mất đi nên đối với đứa con
lúc này, mẹ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc đời của chúng. Sau
các kì thi có thể thấy các bà mẹ có vài như là 「教育ママ」(người mẹ giáo dục), sau những năm 60, mối quan hệ giữa
mẹ và con cái tập trung ở hai chữ “trường học”, cụm từ「IQママ」(người mẹ thông minh) cũng bắt đầu xuất
hiện. Trong con mắt của mọi người, thành công của con cái trong việc học và giá
trị của người mẹ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông qua những mối quan hệ phụ
thuộc này có thể kết luận rằng mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái là mối quan hệ
quan trọng nhất trong gia đình. Quyền lực của người mẹ đối với con cái và cuộc
sống gia đình ngày càng có xu hướng tăng cao.
Tóm tại, có thể thấy cấu trúc gia đình Nhật Bản đã thay đổi, đặc biệt người bố không còn là người có quyền
lực lớn nhất. Từ sau thời kì kinh tế phát triển cao độ những năm 60, sự tồn tại
của người bố trong gia đình mờ nhạt, số lượng thành viên trong gia đình cũng giảm
dần, chuyển theo hướng gia đình hạt nhân. Chính vì sự thay đổi của xã hội cùng
với sự vô hình của bố dẫn đến quyền lực trong tay người bố dần dần chuyển sang
cho mẹ.
1.3 「甘え」 trong giáo dục
Mặc dù không phải là vấn đề mới nhưng trước kia so với các quốc
gia khác, Nhật Bản từng bị phê bình về chế độ giáo dục. Chế độ giáo dục này được
cho là một trong những chính sách phục hồi đất nước sau chiến tranh, đặc biệt
hơn nữa khi Nhật Bản lại là một quốc gia nghèo tài nguyên, xếp vị trí thứ nhất
trong danh sách các quốc gia nhập khẩu nguyên liệu nhiều nhất thế giới. Nhờ có
chế độ giáo dục này, Nhật Bản đã tạo ra nguồn lao động vô cùng chăm chỉ, ngoan
ngoãn và trung thành. Tinh thần học hành này vẫn được tiếp tục phát huy mạnh mẽ
tại các trường học. Tuy nhiên, tính độc lập, cá nhân bị chi phối khá nhiều. Vì
không nhìn ra được tầm quan trọng của tính cá nhân và tính sáng tạo nên mặc dù
tiếp thu khoa học- công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nhưng Nhật Bản lại không phát
minh ra được bất cứ một loại máy móc nào. Mãi cho đến gần thế kỉ 21 Nhật Bản mới
nhận ra điểm yếu của mình nằm ở ngành công nghiệp kỹ thuật. Trong một thời gian
dài, những người lao động Nhật đã bị phụ thuộc và hạn chế bởi chế độ giáo dục
này. Sau chiến tranh, nền kinh tế của Nhật Bản phục hồi một cách nhanh chóng. Mối
quan hệ Amae chính là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa người lao động và chế
độ giáo dục của Nhật Bản. Để bản thân được an toàn người lao động phải amaeru –
phụ thuộc vào bộ giáo dục và cũng là để thỏa mãn nguyện vọng của chính bản thân
mình.
2. Tâm lý Amae
2.1 Amae trong tinh thần
của người Nhật
Trong cuốn 「甘えの構造」 tác giả Takeo Doi đã giải thích những
hiện tượng đặc trưng trong xã hội Nhật Bản ngày nay thông qua Tâm lý Amae.
Chúng ta cùng tìm hiểu về cấu tạo tinh thần của người Nhật Bản hiện đại. Mặc dù
Amae là một từ tiếng Nhật rất thông dụng như hiện nay chúng ta không còn được
nghe, nhắc đến nhiều như trước. Ngay chính bản thân những người trẻ tuổi Nhật
cũng không hiểu rõ về Amae bằng những người nước ngoài. Tiếp sau đây, tôi xin đề
cập đến những biểu hiện của Amae trong xã hội Nhật Bản hiện đại, những khái niệm
liên quan đến Amae, Honne, tatemae, nghĩa lý và nhân tình,… và sau những năm 70
thì người Nhật thay đổi suy nghĩ như thế nào về Amae
a. Sử dụng kính ngữ
Đầu tiên chúng ta hay cùng suy nghĩ
xem tâm lý Amae ảnh hưởng đến tinh thần của
người Nhật và các mối quan hệ như thế nào nhé!
Vì người Nhật lúc nào cũng mang trong
mình sự kính trọng đối với đối phương nên khi giao tiếp với nhau họ thường rất
hay sử dụng kính ngữ ( dùng thể lịch sự, thể tôn tính, thể khiêm nhưởng). Ngay
cả khi chào hay tiếp túc với đối phương, người Nhật luôn giữ một khoảng cách Nhất
định đối với đôi phương để thể hiện lòng kính trọng và sự lịch sự. Hoàn toàn
không có chuyện ôm vai, bá cổ, hôn má. Sự kính trong đối với đối phương của người
Nhật thể hiện trong mọi hành động, dù cho đó chỉ là một hành vi rất nhỏ, không
ai chú ý. Đặc biệt việc sử dụng kính ngữ đồng nghĩa với việc giữa bản thân và đối
phương đang tồn tài một mối quan hệ theo chiều dọc mà ông Tanake Chie đã chỉ
ra. Theo Takeo Doi, mối quan hệ theo chiều dọc hoàn toàn thỏa mãn mối quan hệ
phụ thuộc – Amae. Ông cho rằng kính ngữ được sinh ra từ sự kết hợp hoàn hảo giữa
甘えvàタテ. Kính ngữ được sử dụng để amaeru đối
phương, tôn trọng những người bề trên và được sử dụng trong tất cả các mối quan
hệ giữa người với người ( mối quan hệ cha mẹ và con cái, thầy cô và học trò, tiền
bối và hậu bối, giữa vợ và chồng). Mối quan hệ theo chiều dọc được xác định khi
bản thân tìm ra được vị trí của mình trong xã hội. Cứ như vậy, giữa bề trên và
bề dưới phụ thuộc lẫn nhau. Kết quả là mối quan giữa những người này ngày càng
trở nên khăng khít và gắn bó hơn rất nhiều. Nhật Bản không phải là quốc gia duy
nhất sử dụng kính ngữ, ngoài ra còn có rất nhiều các quốc gia khác sử dụng kính
ngữ. Việt Nam
cũng là một trong những quốc gia đó.
b. Trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái
c. Trong mối quan hệ giữa Sempai ( tiền bối) và Kohai (hậu bối)
Cũng giống như mối quan hệ giữa cha mẹ
và con cái, mối quan hệ giữa Sempai và Kohai cũng là một mối quan hệ theo chiều
dọc. Đặc biệt là từ khi bắt đầu vào tiểu học cho đến khi học đại học, mối quan
hệ giữa tiền bối và hậu bối vẫn luôn được cho là một mối quan hệ vô cùng quan
trong. Theo những sinh viên đại ở Nhật Bản, ngay từ khi bắt đầu nhập học họ đã
phụ thuộc vào các tiền bối trong trường để có thể chia sẻ, tâm sự chuyện học
hành và những chuyện xảy ra trong cuộc sống. Ngược lại phía tiền bối cũng phụ
thuộc vào các hậu bối của mình, muốn các em phụ giúp và hợp tác với mình trong
những hoạt động của trường, lớp. Vì mối quan hệ này là mối quan hệ đầu tiên được
tạo nên kể từ khi bước chân vào cổng trường đại học nên họ vẫn luôn duy trì mối
quan hệ này ngay cả khi đã tốt nghiệp. Và cũng giống như những mối quan hệ theo
chiều dọc khác, khi tiền bối nói chuyện với hậu bối sẽ sử dụng kính ngữ, đến
ghé thăm và chơi với tiền bối nhiều hơn, giúp đỡ tiền bối bằng tất cả khả năng
của mình. Ngoài ra, thay vì gọi thẳng tên của tiền bối, các hậu bối vẫn sử dụng
cách gọi Sempai để thể hiện sự kính trọng của mình
d. Chủ nghĩa tập đoàn
Có thể thấy dưới con mắt của người nước
ngoài, người Nhật lúc nào cũng đi theo nhóm, không đi đơn lẻ. Cả những khi đi
công tác, người nhật cũng theo nhóm- 1 đoàn những salaryman. Họ là những người
theo chủ nghĩa tập thể. Trong thực tế, người Nhật khi đứng trong một tập thể rất
mạnh nhưng khi đứng một mình rất yếu. Việc bản thân thuộc về một tập thể nào đó
giống như việc tìm được cho mình một nơi an toàn đề có thể phụ thuộc, nương tựa
vào. Ý thức về quan hệ theo chiều dọc タテvà
bên trong内 của người Nhật biểu hiện rất rõ
trong xã hội hiện đại. Khi thuộc về một tập thể nào đó, mọi người phụ thuộc lẫn
nhau nên sự liên kết giũa những cá nhân ngày càng chặt chẽ, không còn phải
khách sáo. Từ 内 chính là để biểu thị cho mối quan hệ
này, giữa những người thuộc nhóm mình.Tuy nhiên khi tiếp xúc, ứng xử với những
người ngoài, không thuộc nhóm mình thì sự khách sáo lại rất cần thiết. Người Nh ật
sử dụng từ 外để chỉ những người ngoài nhóm mình.
Ngoài ra, từ内 còn để nói về những người trong gia
đình mình. Tương tự, đối với những nhóm, tập thể mà bản thân thuộc vào như lớp
học, câu lạc bộ,…Và người Nhật luôn luôn cảm nhận được sự đống nhất, hòa làm một
với tập thể, coi trọng nguyện vọng của tập thể hơn là nguyện vọng của chính bản
thân mình.
Một trong những tập thể tiêu biểu phải
kể đến đó là câu lạc bộ của những sinh viên học đại học. Bên cạnh việc học thì
việc tham gia các câu lạc bộ chiếm một phần không nhỏ trong cuộc sống của đại
đa số các sinh viên Nhật Bản. Hơn nữa, vào câu lạc bộ các bạn sinh viên không
chỉ hoạt động mà có thể kết bạn và chơi với nhau nên hầu hết vào các buổi tối
hoặc cuối tuần, họ sẽ dành thời gian đến chơi và trò chuyện cùng những người bạn
cùng câu lạc bộ. Cũng giống như gia đình và công ty dựa trên thành phần ba mẹ
và con cái, cấu trúc câu lạc bộ cũng bao gồm thành phần tiền bối và hậu bối. Những
thành viên mới vào – hậu bối sử dụng kính ngữ đối với những thành viện lâu năm
trong câu lạc bộ - tiền bối và giúp đỡ họ trong các công việc lớn, nhỏ của câu
lạc bộ. Hơn nữa, để giúp đỡ các tiền bối, các hậu bối cho dù có phải trì hoãn
công việc của bản thân thì cũng cố gắng giúp tiền bối. Câu lạc bộ nói cách khác
cũng là những người thuộc nhóm mình 内, có thể phụ thuộc lẫn nhau.
2. Sự biến đổi tâm lý Amae
Thế hệ trẻ ngày nay có suy nghĩ khá
khác so với thời xưa nên cấu trúc tinh thần có sự biến đổi. Tự Amae phụ thuộc
chuyển sang độc lập, tự lập với chính cuộc đời của mình. Trong những trường hợp
trang trọng, họ vẫn nhìn vào mối quan hệ chiều dọc và sử dụng kính ngữ nhưng
trong các mối quan hệ bạn bè đồng nghiệp thì trở nên bình đẳng. Trong các câu lạc
bộ, mối quan hệ giữa sempai và kohai cũng không còn coi trọng việc sử dụng kính
ngữ như trước, khá thoải mái và dễ chịu, sử dụng kính ngữ cũng ít dần. Mối quan
hệ phụ thuộc vẫn còn tuy nhiên không chú trọng mặt hình thức nữa. Giữa những
người bạn với nhau không cần câu nệ và chỉ cần chú ý với những người bề trên ví
dụ như cha me, thầy cô,…. Mối quan hệ amae giữa những người trẻ ngày càng trở
nên không cần thiết.
Mối quan hệ amae giữa người với người
cũng giảm đi trong tập thể. Mặc dù tập thể vẫn được coi là trung tâm của cuộc sống,
và vẫn còn khá xa với chủ nghĩa cá nhân ở phương Tây nhưng chủ nghĩa cá nhân
trong các tập thể ở Nhật đang ngày càng mạnh lên. Trước kia họ làm việc hoàn
toàn vì lợi ích của công ty thì bây giờ bắt đầu coi trọng mục đích của bản thân
và lờ đi mục đích của tập thể. Cấu trúc của tập thể cũng khác xưa, trước kia
quyết định của tập thể là nguyện vọng của các thành viên thì nay quyết định được
thông qua phải có sự đồng ý của tất cả các thành viên. Ngay trong các câu lạc bộ,
các thành viên sử dụng sức mạnh của tập thể để đạt được nguyện vọng của bản
thân. Tổ chức mang tinh thần tập thể nhưng lại là nơi giúp cá nhân đạt được mục
đích của mình.
Tuy nhiên cũng có khá nhiều người trẻ
sống tách khỏi tập thể. Họ không còn hứng thú với những chuyến đi du lịch theo
tour. Đặc biệt có rất nhiều những bạn nữ thích việc đi du lịch một mình. Bên cạnh
đó, mặc dù vẫn cảm nhận được sự hòa làm một, đồng nhất trong tập thể nhưng khi
nhìn vào những nhóm bạn trẻ đang tụ tập, có thể thấy rõ sự khác biệt trong thời
trang, phong cách, sự tự do thể hiện cá tính.
Một số biến đổi khác trong tâm lý
amae đó là sự ý thức về quyền lực và những người nắm quyền lực. Trong những năm
gần đây, quyền lực của những người nắm quyền trong xã hội nhật bản đang dần yếu
đi và cách suy nghĩ của người Nhật cũng thay đổi. Trong xã hội cũ người năm quyền
luôn luôn được tôn kính bởi những người cấp dưới. Tuy nhiên trong xã hội hiện đại
đã khác. Đặc biệt khi những người trẻ tuổi lên nắm quyền thì việc rất khó để sử
dụng kính ngữ trong giao tiếp với họ.
Từ xưa trong xã hội Nhật Bản, con người
Nhật mang nặng tư tưởng mình phải chịu sự chi phối từ người nắm quyền. Tuy
nhiên bây giờ họ hoàn toàn phản đối tư tưởng này nên thứ được cho là quyền lực
hoàn toàn bị phá vỡ. Những cơ quan nắm quyền mà trước kia họ kính trọng bây giờ
họ đã nhìn với con mắt nghi ngờ và không coi trọng người lãnh đạo nữa. Nói cách
khác suy nghĩ của người Nhật về những người nắm quyền đã thay đổi, không còn tồn
tại mối quan hệ phụ thuộc nữa. Sự đổ vỡ của mối quan hệ phụ thuộc được rất nhiều
người cho rằng đây chính là nguyên nhân cho rất nhiều những vấn đề đang xảy ra
tại Nhật
3. Mối quan hệ phụ thuộc ở Việt Nam
Ở Việt Nam
có tồn tại mối quan hệ phụ thuộc những không rõ ràng và sâu sắc như ở Nhật Bản.
Hiện nay Việt Nam
cũng đang dần thay đổi theo hướng đi của các nước phương Tây – độc lập, bớt phụ
thuộc. Tuy nhiên đây là một quá trình dài và gian nan
- Giống: Cấu trúc xã hội Việt Nam có
cấu trúc khá giống với Nhật Bản, xã hội theo chiều dọc. Cũng tồn tại những mỗi
quan hệ cơ bản như cha mẹ và con cái, chính trị gia và người dân, thầy cô và học
trò, tiền bối và hậu bối, cấp trên và cấp dưới,… và luôn luôn tồn tại sự phụ
thuộc lẫn nhau trong các mối quan hệ này. Tuy nhiên không rõ rệt bằng Nhật Bản
- Khác: Hai điểm khác nhau cơ bản:
1. Con cái sống còn quá phụ thuộc từ khi
còn bé cho đến khi trưởng thành, vẫn luôn sống trong vòng tay bao bọc của cha mẹ,
khả năng độc lập, tự lập dường như là không có.
2. Ở Việt Nam không có chủ nghĩa tập thể giống
như ở nhật, những chế độ như làm việc cả đời, cống hiến hết mình vì lợi ích của
tập thể, làm them giờ, làm vào ngày nghỉ dường như rất ít hoặc không có. Mặc
dù, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa sếp và nhân viên vẫn tồn tại. Tuy nhiên họ vẫn đặt
lợi ích cá nhân lên trên, sẵn sàng chuyển chỗ làm nếu tập thể đó không trả
lương xứng đáng với năng lực
Kết luận
Có thể thấy mối quan hệ phụ thuộc xuất
hiện trong tất cả các lát cắt xã hội Nhật Bản, trong đời sống tinh thần của người
Nhật. Cấu trúc xã hội Nhật Bản là xã hội theo chiều dọc. Bao gồm rất nhiều mối
quan hệ như cha mẹ và con cái, chính trị gia và người dân, thầy cô và học trò,
tiền bối và hậu bối, cấp trên và cấp dưới,… và luôn luôn tồn tại sự phụ thuộc lẫn
nhau trong các mối quan hệ này. Nhờ có sự phụ thuộc này mà các mối quan hệ trở
nên khăng khít và bền chặt hơn. Tuy nhiên, bản thân sự phụ thuộc cũng có những
yếu điểm của nó.
Nhìn vào xã hội Nhật Bản có thể thấy
mối quan hệ amae đang ngày dần yếu đi, và được cho là nguyên nhân đây ra nhiều
các vấn đề đang xảy ra tại Nhật Bản, mất đi sự cân bằng xã hội.
Tài liệu tham khảo
甘えの構造―土居
“Quan hệ con người trong xã hội chiều
dọc”「タテ会社の人間関係」của nhà nhân chủng học Nakae Chie (中根千枝- 1976)
The anatomy of dependence” Takeo Doi
( Giải phẫu sự phụ thuộc)
Bài nghiên cứu「甘え」の構造と「自由」・「権利」の両義性 của 柿本佳美
CÁC TÔN GIÁO CHÍNH & SỰ GIAO THOA TÔN GIÁO Ở NHẬT BẢN
By
thelam92
01:44
Thiên Chúa giáo
1. Đặc điểm
So với Thần đạo và Phật giáo, lịch sử của Thiên Chúa giáo Nhật Bản tương đối trẻ.
Năm 1549, nhà truyền giáo, linh mục Francisco de Xavier, người Tây Ban Nha sang Nhật và lần đầu tiên giới thiệu tôn giáo này. Thời đó, cả triều đình và chính quyền Muromachi đều không có sức chi phối toàn quốc nữa, các sứ quân daimyo chia đất nước Nhật Bản thành nhiều khu vực và cai trị khu vực của mình. Những người truyền giáo Thiên Chúa giáo thời đó không chỉ giới thiệu Thiên Chúa giáo mà còn mang đến nhiều máy móc, kỹ thuật, ấn phẩm tiên tiến của phương Tây cũng như những điều mới lạ của các nước Đông Nam, Tây Nam Á. Vì vậy có một số sứ quân daimyo cho phép nhà truyền giáo hoạt động tại khu vực của mình để tranh thủ học hỏi kỹ thuật tiên tiến, giao dịch buôn bán…
Nhà thờ Chính toà ở Tokyo
Nhưng sau khi thống nhất đất nước, sứ quân Toyotomi Hideyoshi đã cấm các nhà truyền giáo Thiên Chúa giáo hoạt động trên lãnh thổ Nhật Bản vào năm 1587, khi đã có khoảng 150.000 người theo. Chính quyền Tokugawa sau đó cũng tiếp tục đẩy mạnh chính sách này, nghiêm cấm người Nhật theo Thiên Chúa giáo.
Đại học Công giáo Sophia (Thượng Trí Đại học) ở Tokyo
Năm 1637, tại vùng Shimabara-Amakusa (tỉnh Nagasaki hiện nay) cuộc chiến Shimabara bùng nổ, 37.000 tín đồ Thiên Chúa giáo trong khu vực này chiếm thành lũy, giao chiến với quân đội chính quyền. Sau đó, chính quyền tăng cường đàn áp tín đồ Thiên Chúa giáo tới mức những người theo đạo này phải che giấu tín ngưỡng của mình.
Sau thời Minh Trị Duy Tân, chính sách cấm Thiên Chúa giáo được hủy bỏ. Nhiều nhà truyền giáo, hầu hết từ Mỹ, đã tới Nhật Bản để phổ biến Thiên Chúa giáo và đặt cơ sở tại Nhật Bản, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội.
Một tu viện nữ ở Tokyo
2. Ảnh hưởng của thiên chúa giáo đối với Nhật Bản
Sự du nhập của thiên chúa giáo vào Nhật Bản đã ảnh hưởng rất lớn đối với mỹ thuật, kiến trúc ( Nhà thờ), âm nhạc (Thánh ca), văn học (Kinh thánh, truyện thần thoại ) khoa học - kỹ thuật, cuộc sống và nhiều lĩnh vực khác. sử dụng lịch dương
Mỹ thuật và kiến trúc thể hiện chủ yếu qua kiến trúc của nhà Thờ
3. Phật giáo Nhật Bản
1. Thời gian và quá trình Phật giáo du nhập vào Nhật Bản
So với các nước khác trong khu vực, thời điểm du nhập Phật giáo vào Nhật Bản có muộn hơn. Theo các nguồn sử liệu còn lại, khoảng thế kỷ VI Phật giáo đã từng có mặt ở Nhật Bản. Việc du nhập Phật giáo vào Nhật Bản chủ yếu từ hai con đường: Trung Quốc và Triều Tiên (Phật giáo có mặt ở Triều Tiên sớm hơn ở Nhật Bản chừng 150 năm). Cuốn lịch sử Phật giáo thế giới (tập I) có dẫn lại sách Phù Tang Lược Ký cho biết: “Tháng 2 năm thứ 16 sau khi Kế Thể Thiên Hoàng ( năm thứ 3 niên hiệu Phổ Tông Vũ Đế nhà Lương năm 522) một người Hán là Tư Mã Đạt đến Nhật Bản làm nhà cỏ ở Bản Điền Nguyên, quận Cao Thị, nước Đại Hòa, bày tượng Phật lễ bái”. Cùng theo nguồn sử liệu trên thì vào tháng 10 năm 552 ( năm thứ 13 đời Khâm Minh Thiên Hoàng) có Thanh Minh Vương ở nước Bách Tề trên bán đảo Triều Tiên đã sai Cơ Thi Đạt dẫn đầu một đoàn người đến tặng 1 pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng và có cờ phướn, kinh luân”. Giới nghiên cứu ở Nhật Bản quen gọi hai con đường du nhập Phật giáo: Tư truyền và Công truyền để phân biệt Phật giáo được dân gian truyền vào và Chính phủ truyền vào.
2. Nguyên nhân các nhà sư Nhật Bản lấy vợ
Đến thời đại Giang Hộ (Edo 1603~1867), Phật giáo trở thành quốc giáo. Tất cả mọi người dân là tín đồ của một ngôi chùa, lúc này tất cả các tự viện trở thành nơi đăng ký hộ khẩu hộ tịch, ký thác hài cốt, bài vị, bảo quản gia phổ của tín đồ. Do các công việc đó, nơi tự viện cần có rất nhiều người chuyên môn quản lý lĩnh vực này.
Khi đó, các vị Sa di nhỏ tuổi xuất gia trong các ngôi chùa ở quê hương, học tập Kinh sách cơ bản, đa số rời xa chùa mình đi đến Kinh đô học tập, nơi các trường học do các tông phái lập nên, có rất nhiều giáo sư giỏi và có nền kinh tế ổn định. Lúc này, Nhật Bản không có chiến tranh, văn hóa phát triển, một đất nước thái bình. Kết quả là tốt xấu cùng tồn tại, ở thủ đô Osaka và Đông Kinh, nơi chốn phồn hoa đô thị, các Sa di mới học Phật nhỏ tuổi bất hạnh đã bị vướng phải sự hấp dẫn của chốn hồng trần, phạm phải giới điều nhà Phật.
Bởi vì lúc này Phật giáo là quốc giáo, nên các Tỳ kheo phạm giới đều bị tự viện và pháp luật của quốc gia xử phạt. Nửa thế kỷ XIX về trước, các người đó bị đưa ra đảo Hachijo! Đây là hòn đảo ở phía nam của Kinh đô, không thể trồng lúa chỉ trồng được khoai lang, cư dân sống rất cực khổ. Các vị đó bị đày ra hòn đảo này, họ có học thức nên hay viết sách và soạn sách giáo khoa, đa số họ kết hôn với người vùng này sinh con đẻ cháu, họ làm việc cho các cơ quan nhà nước và dạy học ở các trường, cuộc sống của họ tương đối ổn định, và tất cả người dân đều đồng tình với họ.
Sau năm 1840, bởi vì người đi học phạm giới đó quá nhiều, chính phủ và Tăng đoàn không có cách nào quản thúc được nữa. Cuối cùng, sau khi học xong có người đã đi cùng với người mình kết hôn về thăm cố hương và mang theo con nhỏ nữa. Thầy của họ khi ấy vô cùng khó chịu, song cuối cùng phải thu nhận những người đệ tử bất hiếu này.
Vì công việc quản lý hộ khẩu hộ tịch của tự viện không thể đình chỉ, nên họ phải vào làm công tác này để phục vụ quê hương. Kết quả, Nhật Bản có rất nhiều hình ảnh tự viện ở quê sau chùa phơi đồ trẻ em. Tuy vậy, nhưng họ vẫn là những người làm rất tốt công tác quản lý hộ khẩu hộ tịch, phần mộ và bài vị tổ tiên.
Đến năm 1868, trải qua một giai đoạn cách mạng, chính phủ mới của Nhật Bản cho đến hôm nay, họ đối với Phật giáo không còn nhiệt tình như trước, Phật giáo đã không còn địa vị quốc giáo. Song tuyệt đại đa số người dân Nhật Bản đều là tín đồ Phật giáo, họ đối với sự tín phụng cung kính tự viện giống như trước đây, các tôn giáo khác cố tình và đem rất nhiều tiền của để cải đạo người dân, nhưng hầu như không có kết quả gì, chỉ có truyền đạo ở các nơi dân tộc thiểu số, vì mọi người từ trí thức đến bình dân đều tin hiểu sâu vào giáo lý nhân duyên nghiệp báo, và tự viện cũng là nơi bảo hộ cho phần mộ bài vị và gia phổ của người dân.
3. Ảnh hưởng của phật giáo đối với người nhật
Ảnh hưởng của phật giáo với nghệ thuật
• Rất nhiều ngôi chùa cổ có kiến trúc đặc sắc
• Nghệ thuật vườn, trà đạo, samurai
Ảnh hưởng của phật giáo tới đạo đức
• Tính trung thực
• Ý thức cộng đồng
Ảnh hưởng của phật giáo tới lễ hội, phong tục
• Lễ Vu Lan: Là lễ hội Phật giáo nhằm tỏ lòng tôn kính đối với linh hồn của tổ tiên và thân nhân đã qua đời. Nhiều gia đình trang trí bàn thờ với những vật trang trí đặc biệt và mời thầy tu về tụng kinh cho những người quá cố.
• Lễ Phật Đản (Kanbutsu/Hana Matsuri): Lễ kỷ niệm ngày sinh Đức Phật Thích-ca-mầu-ni ở Nhật Bản được cử hành vào ngày 8/4. Mọi người thường đi viếng đền chùa để tỏ lòng tôn kính Đức Phật.
Lễ hội Daisairei (Izumo)
Sau này,những điện thờ được xây dựng để lầm nơi thờ cúng.Nhiều nhà còn lập cả một giá nhỏ để thờ thần và người ta thường đặt thức ăn,hoa quả ở đó để cúng.Đạo Phật bắt nguồn từ Ấn Độ ,qua Trung Quốc và Triều Tiên đến Nhật Bản vào khoảng giữa thế kỉ thứ 6.Phật giáo ở Nhật Bản có nhiều môn phái khác nhau.Trong các ngôi chùa đều có tượng Phật butsuzo và du khách đến chùa đều thắp hương trước Phật và cũng là nơi họ thờ tổ tiên.
4. Phật Giáo Nhật Bản ngày nay:
Theo thống kê gần đây cho thấy có khoảng 70% dân số là tín đồ Phật giáo. PGNB được chia thành mười ba tông phái chính, có 80.000 ngôi chùa, 200.000 tăng sĩ. Có trên 20 đại học, trung học và viện nghiên cứu PG ở khắp đất nước Nhật. PG tu học vẫn được duy trì mạnh mẽ nhưng có ý kiến phê bình rằng ngày nay PG chỉ còn ảnh hưởng trên mặt tri thức hơn là đi sâu vào mặt thực hành như thuở nào. Triết thuyết của PG đã trở nên khó hiểu đối với đại đa số quần chúng và chỉ có số ít quan tâm đến đời sống tôn giáo. Tăng sĩ tụng niệm nhiều hơn tăng sĩ thuyết giảng. PG lý tưởng và đời sống tâm linh dường như đang trên đà lãng quên, cho dù kinh sách PG vẫn ấn hành đều đặn và nhiều hơn trước.
Tương lai của PG Nhật thật khó mà tiên liệu được. Ngành khoa học nghiên cứu PG đã có dấu hiệu phát triển trong những năm gần đây, nhưng nó vẫn còn những khoảng cách nhất định với tầm hiểu biết của quần chúng Phật tử. Phần lớn những nhà nghiên cứu chỉ chú trọng vào chiều sâu của triết thuyết và ngôn từ chuyên môn hơn là những ý nghĩa thật sự của nó đối với đời sống của con người.
Tuy nhiên, có dấu hiệu lạc quan và hy vọng cho sự phục hưng và phát triển PG tại Nhật vì có nhiều tổ chức PG thành lập, đặc biệt là giới cư sĩ tại gia, để mở rộng nhiều chương trình hướng dẫn quần chúng tu học Phật. Nhiều tổ chức tôn giáo xuất hiện sau Thế chiến thứ II (1945) đều mang theo sự ảnh hưởng sâu đậm của PG. Những hoạt động truyền giáo bên ngoài Nhật Bản cũng gia tăng đáng kể, nhiều phái đoàn hoằng pháp liên tục được gởi đi hải ngoại, đặc biệt là bắc Mỹ và châu Âu. Nhiều sách báo được ấn hành trong nhiều loại ngôn ngữ khác nhau của phương Tây, các học giả Nhật Bản đã hợp tác với các nhà nghiên cứu nước ngoài để biên soạn bộ Bách Khoa Từ Điển PG (Buddhist Encyclopedias, ấn hành vào năm 1980). Toàn bộ Kinh sách của PG Tây Tạng đã được chuyển ngữ và được xuất bản bởi một Viện Nghiên Cứu tại Nhật và một bộ sưu tập tất cả những bài nghiên cứu giáo lý Phật Đà được in từ nhiều quốc gia khác nhau, đã được chuyển ngữ và in tại Nhật. PG Nhật cũng hỗ trợ cho nhiều học giả và nghiên cứu sinh từ bắc và nam Mỹ, châu Âu và châu Á, đặc biệt các nước Ấn Độ, Trung Hoa, Tích Lan, Việt Nam... đến Nhật để học Phật. Rất nhiều tổ chức Từ Thiện PG được thành lập để giúp người tị nạn và các quốc gia đang phát triển ở Á châu và Phi châu. Nhìn chung PG Nhật đang chuyển mình để hòa nhập với trào lưu mới để đem lại ánh sáng và bình yên cho mọi người.
IV.Thần đạo
1. Đặc điểm
Thần đạo, chữ Hán là 神道, nghĩa là “con đường của Thần” (kami no michi). Kami (神) là các linh hồn hay vị thần hiện diện ở khắp mọi nơi.
Không giống như các tôn giáo khác như Đạo Thiên Chúa, Đạo Hồi hay Do Thái Giáo, những tôn giáo chỉ tin vào một vị thần tối cao, Thần đạo theo lối “đa thần giáo” – nghĩa là có rất nhiều các vị thần. Kami, linh hồn, có ở mọi nơi và bất cứ cái gì hiện hữu đều có thể là kami Những vật tự nhiên như đá, cây cối, núi sông, thác nước, động vật, sấm chớp… tất cả đều có thể là kami.
Thần đạo đem đến cho những theo đạo những giá trị, chuẩn mực và cách nghĩ mà dần dần thấm sâu vào cuộc sống của người Nhật. Những tập tục thực hành Thần đạo bắt đầu từ trong những gia đình làm nông hoặc những làng chài, nơi tín ngưỡng đã có từ lâu và gắn liền với vùng đất đó. Chính vì vậy, Thần đạo chưa bao giờ vượt ra khỏi lãnh thổ Nhật Bản, và Nhật Hoàng luôn được coi là người gìn giữ đức tin vào Thần đạo. Những người theo Thần đạo ở ngoài lãnh thổ Nhật Bản hầu hết là những người sinh ra ở Nhật Bản, mặc dù đã xa quê hương nhưng vẫn gìn giữ và làm theo tôn giáo chính cống của mình. Không như Đạo Thiên chúa hay Đạo Hồi, luôn đi thao giảng và truyền bá tôn giáo của mình, Thần đạo chính tông không hề cử các đại sứ đi rao giảng đức tin hay cố gắng cải đạo người khác.
Như một quy luật, người ta không gia nhập Thần đạo theo bất cứ lễ nghi chính thức nào. Người ta sinh ra và lớn lên cùng nó, học cách tự nhận biết theo Thần đạo thì phải như thế nào, cũng giống cách họ nhìn nhận ra gia đình mình, thành phố và vùng đất mình đang sống, đất nước mình sinh ra. Trong suốt cuộc đời, dù họ có coi mình theo đạo hay không đi chăng nữa, những người này quan sát các lễ hội Thần đạo và sẽ tự mình ý thức thực hành Thần đạo.
2. Thần đạo trong cuộc sống người Nhật
• Đền thờ:
Đây là Torii, cổng đền thờ Thần. Torii có nghĩa là “điểu cư” (鳥居) – nơi trú của chim, bởi người ta quan niệm chim là sứ giả của thần, bản thân hình dạng cổng đền cũng giống cánh chim đang vươn đến bầu trời. Ngụ ý rằng người đi qua cổng vào đến sắp đến một nơi linh thiêng.
Thần đạo đề cao sự sạch sẽ – biểu tượng cho sự trong sạch, thuần khiết nên người ta trước khi làm lễ đều tắm rửa và mặc những bộ quần áo sạch sẽ, trước khi vào một ngôi đền, họ sẽ phải rửa tay và rửa miệng ở ngoài cổng đền (torii). Thường thì trên con đường đến ngôi đền luôn có suối, lạch nước nhỏ, nước từ đó được đưa đến một cái bồn nước bằng đá – tại đó người ta sẽ rửa tay và miệng.
• Thần đạo trong cuộc đời của mỗi con người:
Miyamairi 宮参り
Khi mới chào đời, đứa trẻ được tiếp nhận sự che chở và bảo hộ của các vị Thần. Khi đứa trẻ được 1 tháng tuổi, cha mẹ chúng đưa đứa trẻ đó đến ngôi đền của địa phương, phong tục này gọi là miyamari. Khi đó, đứa trẻ sẽ trở thành ujiko, kiểu như đứa trẻ sẽ theo Thần đạo và chịu sự bảo vệ của vị thần của ngôi đền đó. Theo truyền thống thì đây là nơi đầu tiên đứa trẻ ghé thăm khi mới chào đời (sau 1 tháng ở cữ). Cũng theo đó, cha mẹ thay mặt cho đứa bé trách nhiệm tín ngưỡng với ngôi đền và có thể tham gia vào các lễ hội cũng như các nghi lễ khác. Miyamairi đánh dấu sự liên hệ và gắn bó giữa con người với các vị thần, kể từ khi được sinh ra.
Lễ hội bé trai và bé gái
Theo truyền thống, ngày 3/3 hằng năm là ngày bé gái, hay là lễ hội búp bê (Hina Matsuri). Vào ngày này, các bé gái trưng bày các con búp bê lên một chiếc bục (hầu hết các búp bê được truyền lại từ đời trước trong gia đình), sau đó mời bạn bè đến ngồi chơi, ngắm búp bê và uống trà.
Ngày bé trai (Tango no Sekku) diễn ra vào ngày 5/5 hằng năm. Vào ngày này, người ta sẽ bày các bộ giáp võ sĩ samurai ngày xưa, hay các búp bê samurai ở ngoài cửa ra vào để đuổi quỷ dữ đi. Các bé trai sẽ vận những bộ trang phục truyền thống mà các samurai ngày xưa hay mặc, biểu tượng cho sức mạnh và lòng dũng cảm và treo diều cá chép, biểu tượng của sinh khí và sức mạnh.
Shichigosan
Một người mẹ đang dẫn con gái mình đến một ngôi đền trong ngày Shichigosan
Shichigosan, hay là bảy-năm-ba là ngày cầu phúc cho trẻ em. Phong tục này thường diễn ra vào tháng 11. Các bé gái lên 3 và 7, cac bé trai lên 5 vận những bộ trang phục truyền thống và đi lễ ngôi đền bảo hộ chúng. Tại đó các đứa trẻ sẽ cầu mong các vị thần sẽ bảo vệ mình và phù hộ cho chúng lớn lên khỏe mạnh.
Lễ thành nhân
Các bạn nữ trong Lễ thành nhân
Lễ thành nhân ngày xưa được tổ chức theo nghi lễ Thần đạo vào ngày rằm tháng giêng (15/1), tuy nhiên bây giờ được tổ chức vào ngày thứ 2 tuần thứ 2 tháng giêng và cũng không còn giữ những phong tục của Thần đạo xưa nữa. Lễ thành nhân là lễ mừng các thanh niên nam nữ bước sang tuổi 20 (trong năm đó), đánh dấu bước trưởng thành của họ, và có thể kết hôn mà không chịu sự kiểm soát của cha mẹ. Ở nông thôn, nam thanh niên sang tuổi 20 có vinh dự được mời làm chân khiêng kiệu trong các lễ diễu hành ở các lễ hội.
Đám cưới:
Nghi lễ san san kudo (三々九度), trong đó cô dâu và chú rể cùng uống rượu sake. Đây là một trong những nghi thức cổ nhất trong lễ cưới Thần đạo, được bắt đầu từ thế kỷ thứ 8. Bộ chén uống rượu được đưa ra gồm ba chiếc chén gọi là sakazuki có kích thước tăng dần. Chú rể sẽ bắt đầu với chiếc nhỏ nhất, nhấp 3 ngụm rượu trước khi chuyển sang chiếc lớn hơn. Cô dâu cũng làm theo tương tự. Ba lần ba là chín, nó tượng trưng cho hạnh phúc trường tồn, cầu chúc cho cặp vợ chồng sẽ mãi mãi bên nhau. Hai người sẽ thề trước thần linh và dâng một nhánh cây sakaki gọi là Tamagushi lên cho các thần.
• Đám tang luôn được giao cho các nhà sư đạo phật, vì ở Nhật cái chết dc cho là ko thanh khiết.
c. Thần đạo trong đời sống hàng ngày
• Lễ tẩy trần là một phần không thể thiếu của thần đạo. Những tòa nhà mới xây ở Nhật rất hay được các thầy cúng làm lễ ban phước trong quá trình khánh thành, thậm chí rất nhiều xe hơi được làm lễ trong quá trinh lắp ráp. Nhiều công ty Nhật ở nước ngoài cũng được làm nghi lễ này.
• Người Nhật vốn ưa sống sạch sẽ, thanh tịnh, gần gũi với thiên nhiên, sống hoà mình với thiên nhiên. Hơn nữa, trong nhà người Nhật luôn có bàn thờ để tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
• Thầy cúng ở nhật có thể là nam hoặc nữ, có thể kết hôn và sinh con. Họ có thể sống trong các miếu thờ họ quản lí.
• Sumo được coi là môn thể thao giải trí của thần. Chính vì thế, Sumo chịu ảnh hưởng rất nhiều của Thần đạo như rửa tay trước khi vào sàn đấu, vỗ tay để thu hút sự chú ý của các thần, dang rộng tay và chân để cho mọi người biết rằng mình không mang vũ khí. Trước trận đấu, võ sĩ sumo còn giậm chân thật mạnh và rắc muối quanh sàn đấu để xua đuổi tà ma. Nhiều ngôi đền cũng tổ chức các trận đấu Sumo nhân dịp năm mới.
• Ngoài ra có rất nhiều bộ phim lấy cảm hứng từ tôn giáo này
V. NHO GIÁO ( ĐẠO KHỔNG)
1. Qúa trình hình thành phát triển
• Đạo Khổng bắt đầu được truyền vào từ thế kỷ thứ 5.
• Năm 604, Thái tử Shotoku đã dùng lí tưởng Nho học để xây dựng pháp luật.
• Đến thời Nara (710 – 794) và giai đoạn đầu của thời Heian (794 – 1185) Nho học phát triển mạnh mẽ,
• Vào thời Edo, đạo Khổng ( chủ yếu là Tống Nho) được chính quyền Mạc Phủ chọn làm hệ tư tưởng chính thống của đất nước.
• Thời đại Minh Trị: Người Nhật luôn cố gắng gắn sự cai trị của Hoàng đế với giá trị đạo đức của đạo Khổng, đặc biệt là lòng chung thành và sự hiếu thảo.
Ngoài ra, người Nhật còn tiếp thu kiến giải tư tưởng của đạo Khổng theo cách riêng của mình, cải biến cho phù hợp với điều kiện đặc thù của Nhật Bản. Việc cải biến được thực hiện dựa trên năm đặc điểm sau: sự chung thành, tính lễ nghi, lòng quả cảm, sự công minh, tính cần kiệm và tính “hoà”-“hiếu”.
2. Nội dung cơ bản của Nho giáo
Theo Khổng Tử, để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo".
• Tu thân
Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức... để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.
• Tam cương ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng).
• Ngũ thường năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
• Tam tòng ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
• Tứ đức bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: công - dung - ngôn - hạnh.
• Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân: Đạt đạo. Đạt đức. Biết thi, thư, lễ, nhạc.
• Hành đạo
Sau khi tu thân, phải làm quan, làm chính trị. Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "tề gia, trị quốc, thiên hạ bình ".
Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm: Nhân trị. Chính danh
3. Ảnh hưởng của Nho giáo
• Nho giáo đã góp phần rất lớn vào việc tạo ra cái gọi là tư tưởng Nhật Bản, giúp Nhật Bản tạo ra thiết chế chính trị chặt chẽ và tạo ra một xã hội có đẳng cấp trên dưới.
• Từ sau cuộc cải cách thời Đại Hóa, Nho giáo chiếm vị trí quan trọng hơn: trở thành tư tưởng chính trị quốc gia và là kiến thức bắt buộc đối với những người tham chính
Trong Hiến pháp 17 điều (Kenpô jùshichi jô) do nhà cải cách vĩ đại Shôtoku Taishi (574 - 622) soạn thảo. Trong đó có thể thấy những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo ở khá nhiều điều.
- Điều 1 nói về Hoà và Trung Hiếu:
- Điều 4 nói về Lễ
- Điều 9 nói về Tín - Nghĩa:
• Có thể thấy lúc đầu Nho giáo không phổ biến nhanh chóng trong xã hội Nhật Bản, nó chỉ hạn chế trong một bộ phận nhất định của giới thượng lưu. Nhưng qua thời gian Nho giáo đã ảnh hưởng rất sâu đậm trong ý thức và tư tưởng, tính cách của người Nhật
• Ba Đức là:
Tiết kiệm trong việc sử dụng tài nguyên quốc gia
Tiết kiệm trong chi tiêu cho bản thân
Cần cù và sáng tạo
• Hai Nghĩa là:
Chính trong kinh doanh sản xuất
Trực trong giao dịch thương mại
VI.Cơ Đốc giáo
1.Nguồn gốc
Năm 1542, những người Âu đầu tiên từ Bồ Đào Nha đặt chân lên Kyushu ở phía Tây Nhật Bản. Hai thứ quan trọng nhất về mặt lịch sử mà họ nhập khẩu vào Nhật là thuốc súng và đạo Cơ đốc. Những nhà tư bản người Nhật ở Kyushu hoan nghênh mậu dịch với nước ngoài đặc biệt là vì những loại vũ khí mới, và từ đó liên tiếp nhận sự truyền giáo từ những thầy tu. Những cuộc truyền giáo đã thành công trong việc cải giáo một số lớn những người sống ở phía Tây nước Nhật kể cả những người trong tầng lớp lãnh đạo. Cơ Đốc giáo được truyền vào Nhật Bản từ nửa cuối thế kỷ XVI và được phát triển đến đầu thế kỷ XVII.
Tuy nhiên, chính quyền Tokugawa (1603-1867) cho rằng Cơ đốc giáo là nguy cơ đe doạ sự ổn định của trật tự vừa được thiết lập nên đã cấm nó hoạt động. Cơ đốc giáo bị cấm cho đến tận giữa thế kỷ XIX - khi Nhật Bản lại mở cửa ra thế giới bên ngoài.
Ngày nay có khoảng từ 1 đến 2 triệu người Nhật theo Cơ đốc giáo (khoảng 1% dân số Nhật Bản). Trong Cơ Đốc giáo lại chia ra làm 2 đạo riêng biệt là đạo Tin Lành và Thiên Chúa. Trong đó, tín đồ Tin Lành (981000) nhiều hơn tín đồ Thiên Chúa (457000).
2.Đặc trưng
• Thiên Chúa là đấng duy nhất và quyền năng.
• Chúng ta tin tưởng, yêu mến và hy vọng vào Thiên Chúa là Cha của chúng ta và đặt Người ở vị trí tối thượng trong cuộc sống của chúng ta.
• mọi lời nói xúc phạm, kêu cầu Danh Chúa một cách khiếm nhã, vô cớ, lấy Danh Chúa để thề gian, làm chứng cho lời dối trá dều bị coi là trọng tội.
• Sống hiếu thảo, tôn trọng sự sống,sống trong sạch,sống công bình, tôn trọng sự thật.
Như vậy, đạo này nhằm hướng con người tới những giá trị tốt đẹp nhất cuộc sống, không không chết chóc, ở đó tất cả mọi người đều bình đẳng, làm cho con người hoàn thiện hơn về mặt đạo đức. Nếu các tín đồ không làm điều tàn ác, luôn hòa thuận, yêu thương con người như chính bản thân ta, hiếu thảo ông bà, cha mẹ…thì sau khi chết đi những người đó sẽ được hưởng cuộc sống vĩnh hằng trên Thiêng Đàng, ở cạnh với Đức Chúa. ngược lại sẽ phải xuống Địa Ngục, chịu mọi hình phạt để đền tội.
3.Ảnh hưởng
• Về kinh tế: Những người truyền Cơ đốc giáo thời đó không chỉ giới thiệu Cơ đốc giáo mà còn mang đến nhiều máy móc, kỹ thuật, ấn phẩm tiên tiến của phương Tây, cũng như những điều mới lạ của các nước Đông Nam Á,Tây Nam Á. Do đó có một số sứ quân daimyo cho phép nhà truyền giáo hoạt động tại khu vực của mình để tranh thủ học hỏi kỹ thuật tiên tiến, giao dịch buôn bán, v,v…
• Trước đây, người Nhật sử dụng lịch của người Trung Quốc (Âm Lịch). Đến năm 1873, lịch phương Tây du nhập vào Nhật Bản và hiện nay vẫn được sử dụng phổ biến, chẳng hạn trên tất cả các tờ lịch, cuốn lịch thì đều ghi số năm theo lịch phương Tây.
Tuy nhiên, người Nhật vẫn áp dụng cách đếm năm theo cách của họ, đó là hệ thống đánh số các năm theo niên hiệu và số năm trị vì của Nhật Hoàng đương thời. Cách đánh số này được áp dụng rất thông dụng trong các form mẫu, giấy tờ ở khắp nơi tại Nhật.
• Kiến trúc nhà thờ
Có thể nói đây là một trong những công trình kiến trúc nổi tiếng nhất ở nhật bản, được hoàn thành vào năm 1964 bởi kiến trúc sư nổi tiếng hàng đầu tại Nhật.Một điểm độc đáo của công trình này đó là nếu nhìn từ trên xuống, đỉnh mái nhà thờ như hình ảnh một cây thánh giá làm bằng thủy tinh.
Bên trong cũng không kém phần ấn tượng: một hang động với những bức tường dốc thỉnh thoảng nổi bật với ánh sáng màu đỏ hoặc xanh.Bên cạnh đó là một dải kính biến màu dài được đặt phía sau bàn thờ mang đến sự thanh bình và ấm áp.Tại vị trí tầng hầm các khối đá chơi trong tương phản với cánh kim loại, treo xuống đất chuyển động của các bức tường. Các khu vực cổng phụ có diện tích trần nhà thấp hơn trong đó giới thiệu chính trường
Nhà thờ thánh Mary –Tokyo
Nhà thờ trên nước do Taodao Ando thiết kế
Nhà thờ ánh sáng do Taodao Ando thiết kế
Nhà thờ có kiểu dáng vô cùng đặc biệt này nằm ở Tokyo, Nhật Bản. Đây là sản phẩm của hãng thiết kế Ciel Rouge Creation vào năm 2005. Nhà thờ được tính toán thiết kế để mọi tiếng động đều vọng lại trong khoảng 2 giây. Điều này giúp tạo một cảm giác đặc biệt cho các tín đồ cũng như khách tham quan khi tới đây.
Nhà thờ Harajuku ở Nhật Bản - Nhà thờ của tương lai
• Một số tập tục của Cơ đốc giáo đã trở lên phổ biến cả với những người không theo đạo. Như việc mặc áo đầm trắng trong đám cưới, việc kỷ niệm ngày Valentine, kỷ niệm ngày Giáng Sinh.
Các cặp đôi được quyền tự do lựa chọn kiểu hôn lễ mình muốn, không nhất thiết phải phải đúng theo tôn giáo của họ. Các cặp đôi không theo đạo Thiên chúa vẫn thường tổ chức đám cưới tại các nhà thờ nhỏ ở Nhật.
Ở Nhật Bản, ngày lễ Tình yêu 14/2 là một ngày mà chỉ có phái nữ trao tặng Sô cô la cho phái nam, vợ tặng chồng, con gái tặng con trai hoặc con cái tặng Ba Mẹ của mình. Một tháng sau khi cả thế giới tặng chocolate cho nhau, họ có thêm ngày Valentine trắng. White Day sẽ là ngày con trai "đáp lễ" ( tặng quà con gái ).
những người theo đạo Thiên Chúa ở Nhật Bản lại tổ chức lễ Giáng sinh theo cách của họ. Noel ở Nhật Bản được tổ chức lại rất lớn và hoành tráng, chỉ trong vài năm gần đây Giáng sinh đã trở thành một ngày lễ đầy ý nghĩa ở Nhật Bản, đây là dịp lễ để mọi người thể hiện tình cảm của mình với những người xung quanh đặc biệt là với đồng nghiệp, đối tác của họ…
Giao thoa trong tôn giáo Nhật Bản
Có thể nói Nhật Bản là một trong những quốc gia phức tạp nhất thế giới về tôn giáo.
Ở đây cùng đồng thời tồn tại các phong tục tập quán có nguồn gốc và theo phong cách tôn giáo khác nhau:
• Người Nhật đến lễ ở các đền của đạo Shinto (Thần đạo) vào năm mới
• Đi thăm các chùa chiền của đạo phật vào mùa xuân
(chùa nổi tiếng của Nhật Bản: Pháp Long Tự và chùa Otowasan kiyomizu)
• Nhưng tổ chức tiệc tùng và tặng quà nhau vào dịp lễ Noel theo cách của đạo Thiên chúa.
• Các đám cưới thường được tổ chức theo nghi lễ của thần đạo hoặc đạo thiên chúa.
(Đám cưới được tổ chức ở Đền theo nghi thức Thần đạo)
• Nhưng thủ tục ma chay lại tiến hàng theo nghi lễ của đạo phật.
• Có những người một lúc theo hai hoặc ba đạo, do đó vào năm 1995 theo thống kê của cuốn niên giám về tôn giáo của hiệp hội văn hóa thì tín đồ của tất cả các giáo phái cộng lại là 219,83 triệu, gần gấp đôi dân số Nhật lúc bấy giờ là 120triệu.
1. Đặc điểm
So với Thần đạo và Phật giáo, lịch sử của Thiên Chúa giáo Nhật Bản tương đối trẻ.
Năm 1549, nhà truyền giáo, linh mục Francisco de Xavier, người Tây Ban Nha sang Nhật và lần đầu tiên giới thiệu tôn giáo này. Thời đó, cả triều đình và chính quyền Muromachi đều không có sức chi phối toàn quốc nữa, các sứ quân daimyo chia đất nước Nhật Bản thành nhiều khu vực và cai trị khu vực của mình. Những người truyền giáo Thiên Chúa giáo thời đó không chỉ giới thiệu Thiên Chúa giáo mà còn mang đến nhiều máy móc, kỹ thuật, ấn phẩm tiên tiến của phương Tây cũng như những điều mới lạ của các nước Đông Nam, Tây Nam Á. Vì vậy có một số sứ quân daimyo cho phép nhà truyền giáo hoạt động tại khu vực của mình để tranh thủ học hỏi kỹ thuật tiên tiến, giao dịch buôn bán…
Nhà thờ Chính toà ở Tokyo
Nhưng sau khi thống nhất đất nước, sứ quân Toyotomi Hideyoshi đã cấm các nhà truyền giáo Thiên Chúa giáo hoạt động trên lãnh thổ Nhật Bản vào năm 1587, khi đã có khoảng 150.000 người theo. Chính quyền Tokugawa sau đó cũng tiếp tục đẩy mạnh chính sách này, nghiêm cấm người Nhật theo Thiên Chúa giáo.
Đại học Công giáo Sophia (Thượng Trí Đại học) ở Tokyo
Năm 1637, tại vùng Shimabara-Amakusa (tỉnh Nagasaki hiện nay) cuộc chiến Shimabara bùng nổ, 37.000 tín đồ Thiên Chúa giáo trong khu vực này chiếm thành lũy, giao chiến với quân đội chính quyền. Sau đó, chính quyền tăng cường đàn áp tín đồ Thiên Chúa giáo tới mức những người theo đạo này phải che giấu tín ngưỡng của mình.
Sau thời Minh Trị Duy Tân, chính sách cấm Thiên Chúa giáo được hủy bỏ. Nhiều nhà truyền giáo, hầu hết từ Mỹ, đã tới Nhật Bản để phổ biến Thiên Chúa giáo và đặt cơ sở tại Nhật Bản, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội.
Một tu viện nữ ở Tokyo
2. Ảnh hưởng của thiên chúa giáo đối với Nhật Bản
Sự du nhập của thiên chúa giáo vào Nhật Bản đã ảnh hưởng rất lớn đối với mỹ thuật, kiến trúc ( Nhà thờ), âm nhạc (Thánh ca), văn học (Kinh thánh, truyện thần thoại ) khoa học - kỹ thuật, cuộc sống và nhiều lĩnh vực khác. sử dụng lịch dương
Mỹ thuật và kiến trúc thể hiện chủ yếu qua kiến trúc của nhà Thờ
3. Phật giáo Nhật Bản
1. Thời gian và quá trình Phật giáo du nhập vào Nhật Bản
So với các nước khác trong khu vực, thời điểm du nhập Phật giáo vào Nhật Bản có muộn hơn. Theo các nguồn sử liệu còn lại, khoảng thế kỷ VI Phật giáo đã từng có mặt ở Nhật Bản. Việc du nhập Phật giáo vào Nhật Bản chủ yếu từ hai con đường: Trung Quốc và Triều Tiên (Phật giáo có mặt ở Triều Tiên sớm hơn ở Nhật Bản chừng 150 năm). Cuốn lịch sử Phật giáo thế giới (tập I) có dẫn lại sách Phù Tang Lược Ký cho biết: “Tháng 2 năm thứ 16 sau khi Kế Thể Thiên Hoàng ( năm thứ 3 niên hiệu Phổ Tông Vũ Đế nhà Lương năm 522) một người Hán là Tư Mã Đạt đến Nhật Bản làm nhà cỏ ở Bản Điền Nguyên, quận Cao Thị, nước Đại Hòa, bày tượng Phật lễ bái”. Cùng theo nguồn sử liệu trên thì vào tháng 10 năm 552 ( năm thứ 13 đời Khâm Minh Thiên Hoàng) có Thanh Minh Vương ở nước Bách Tề trên bán đảo Triều Tiên đã sai Cơ Thi Đạt dẫn đầu một đoàn người đến tặng 1 pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng và có cờ phướn, kinh luân”. Giới nghiên cứu ở Nhật Bản quen gọi hai con đường du nhập Phật giáo: Tư truyền và Công truyền để phân biệt Phật giáo được dân gian truyền vào và Chính phủ truyền vào.
2. Nguyên nhân các nhà sư Nhật Bản lấy vợ
Đến thời đại Giang Hộ (Edo 1603~1867), Phật giáo trở thành quốc giáo. Tất cả mọi người dân là tín đồ của một ngôi chùa, lúc này tất cả các tự viện trở thành nơi đăng ký hộ khẩu hộ tịch, ký thác hài cốt, bài vị, bảo quản gia phổ của tín đồ. Do các công việc đó, nơi tự viện cần có rất nhiều người chuyên môn quản lý lĩnh vực này.
Khi đó, các vị Sa di nhỏ tuổi xuất gia trong các ngôi chùa ở quê hương, học tập Kinh sách cơ bản, đa số rời xa chùa mình đi đến Kinh đô học tập, nơi các trường học do các tông phái lập nên, có rất nhiều giáo sư giỏi và có nền kinh tế ổn định. Lúc này, Nhật Bản không có chiến tranh, văn hóa phát triển, một đất nước thái bình. Kết quả là tốt xấu cùng tồn tại, ở thủ đô Osaka và Đông Kinh, nơi chốn phồn hoa đô thị, các Sa di mới học Phật nhỏ tuổi bất hạnh đã bị vướng phải sự hấp dẫn của chốn hồng trần, phạm phải giới điều nhà Phật.
Bởi vì lúc này Phật giáo là quốc giáo, nên các Tỳ kheo phạm giới đều bị tự viện và pháp luật của quốc gia xử phạt. Nửa thế kỷ XIX về trước, các người đó bị đưa ra đảo Hachijo! Đây là hòn đảo ở phía nam của Kinh đô, không thể trồng lúa chỉ trồng được khoai lang, cư dân sống rất cực khổ. Các vị đó bị đày ra hòn đảo này, họ có học thức nên hay viết sách và soạn sách giáo khoa, đa số họ kết hôn với người vùng này sinh con đẻ cháu, họ làm việc cho các cơ quan nhà nước và dạy học ở các trường, cuộc sống của họ tương đối ổn định, và tất cả người dân đều đồng tình với họ.
Sau năm 1840, bởi vì người đi học phạm giới đó quá nhiều, chính phủ và Tăng đoàn không có cách nào quản thúc được nữa. Cuối cùng, sau khi học xong có người đã đi cùng với người mình kết hôn về thăm cố hương và mang theo con nhỏ nữa. Thầy của họ khi ấy vô cùng khó chịu, song cuối cùng phải thu nhận những người đệ tử bất hiếu này.
Vì công việc quản lý hộ khẩu hộ tịch của tự viện không thể đình chỉ, nên họ phải vào làm công tác này để phục vụ quê hương. Kết quả, Nhật Bản có rất nhiều hình ảnh tự viện ở quê sau chùa phơi đồ trẻ em. Tuy vậy, nhưng họ vẫn là những người làm rất tốt công tác quản lý hộ khẩu hộ tịch, phần mộ và bài vị tổ tiên.
Đến năm 1868, trải qua một giai đoạn cách mạng, chính phủ mới của Nhật Bản cho đến hôm nay, họ đối với Phật giáo không còn nhiệt tình như trước, Phật giáo đã không còn địa vị quốc giáo. Song tuyệt đại đa số người dân Nhật Bản đều là tín đồ Phật giáo, họ đối với sự tín phụng cung kính tự viện giống như trước đây, các tôn giáo khác cố tình và đem rất nhiều tiền của để cải đạo người dân, nhưng hầu như không có kết quả gì, chỉ có truyền đạo ở các nơi dân tộc thiểu số, vì mọi người từ trí thức đến bình dân đều tin hiểu sâu vào giáo lý nhân duyên nghiệp báo, và tự viện cũng là nơi bảo hộ cho phần mộ bài vị và gia phổ của người dân.
3. Ảnh hưởng của phật giáo đối với người nhật
Ảnh hưởng của phật giáo với nghệ thuật
• Rất nhiều ngôi chùa cổ có kiến trúc đặc sắc
• Nghệ thuật vườn, trà đạo, samurai
Ảnh hưởng của phật giáo tới đạo đức
• Tính trung thực
• Ý thức cộng đồng
Ảnh hưởng của phật giáo tới lễ hội, phong tục
• Lễ Vu Lan: Là lễ hội Phật giáo nhằm tỏ lòng tôn kính đối với linh hồn của tổ tiên và thân nhân đã qua đời. Nhiều gia đình trang trí bàn thờ với những vật trang trí đặc biệt và mời thầy tu về tụng kinh cho những người quá cố.
• Lễ Phật Đản (Kanbutsu/Hana Matsuri): Lễ kỷ niệm ngày sinh Đức Phật Thích-ca-mầu-ni ở Nhật Bản được cử hành vào ngày 8/4. Mọi người thường đi viếng đền chùa để tỏ lòng tôn kính Đức Phật.
Lễ hội Daisairei (Izumo)
Sau này,những điện thờ được xây dựng để lầm nơi thờ cúng.Nhiều nhà còn lập cả một giá nhỏ để thờ thần và người ta thường đặt thức ăn,hoa quả ở đó để cúng.Đạo Phật bắt nguồn từ Ấn Độ ,qua Trung Quốc và Triều Tiên đến Nhật Bản vào khoảng giữa thế kỉ thứ 6.Phật giáo ở Nhật Bản có nhiều môn phái khác nhau.Trong các ngôi chùa đều có tượng Phật butsuzo và du khách đến chùa đều thắp hương trước Phật và cũng là nơi họ thờ tổ tiên.
4. Phật Giáo Nhật Bản ngày nay:
Theo thống kê gần đây cho thấy có khoảng 70% dân số là tín đồ Phật giáo. PGNB được chia thành mười ba tông phái chính, có 80.000 ngôi chùa, 200.000 tăng sĩ. Có trên 20 đại học, trung học và viện nghiên cứu PG ở khắp đất nước Nhật. PG tu học vẫn được duy trì mạnh mẽ nhưng có ý kiến phê bình rằng ngày nay PG chỉ còn ảnh hưởng trên mặt tri thức hơn là đi sâu vào mặt thực hành như thuở nào. Triết thuyết của PG đã trở nên khó hiểu đối với đại đa số quần chúng và chỉ có số ít quan tâm đến đời sống tôn giáo. Tăng sĩ tụng niệm nhiều hơn tăng sĩ thuyết giảng. PG lý tưởng và đời sống tâm linh dường như đang trên đà lãng quên, cho dù kinh sách PG vẫn ấn hành đều đặn và nhiều hơn trước.
Tương lai của PG Nhật thật khó mà tiên liệu được. Ngành khoa học nghiên cứu PG đã có dấu hiệu phát triển trong những năm gần đây, nhưng nó vẫn còn những khoảng cách nhất định với tầm hiểu biết của quần chúng Phật tử. Phần lớn những nhà nghiên cứu chỉ chú trọng vào chiều sâu của triết thuyết và ngôn từ chuyên môn hơn là những ý nghĩa thật sự của nó đối với đời sống của con người.
Tuy nhiên, có dấu hiệu lạc quan và hy vọng cho sự phục hưng và phát triển PG tại Nhật vì có nhiều tổ chức PG thành lập, đặc biệt là giới cư sĩ tại gia, để mở rộng nhiều chương trình hướng dẫn quần chúng tu học Phật. Nhiều tổ chức tôn giáo xuất hiện sau Thế chiến thứ II (1945) đều mang theo sự ảnh hưởng sâu đậm của PG. Những hoạt động truyền giáo bên ngoài Nhật Bản cũng gia tăng đáng kể, nhiều phái đoàn hoằng pháp liên tục được gởi đi hải ngoại, đặc biệt là bắc Mỹ và châu Âu. Nhiều sách báo được ấn hành trong nhiều loại ngôn ngữ khác nhau của phương Tây, các học giả Nhật Bản đã hợp tác với các nhà nghiên cứu nước ngoài để biên soạn bộ Bách Khoa Từ Điển PG (Buddhist Encyclopedias, ấn hành vào năm 1980). Toàn bộ Kinh sách của PG Tây Tạng đã được chuyển ngữ và được xuất bản bởi một Viện Nghiên Cứu tại Nhật và một bộ sưu tập tất cả những bài nghiên cứu giáo lý Phật Đà được in từ nhiều quốc gia khác nhau, đã được chuyển ngữ và in tại Nhật. PG Nhật cũng hỗ trợ cho nhiều học giả và nghiên cứu sinh từ bắc và nam Mỹ, châu Âu và châu Á, đặc biệt các nước Ấn Độ, Trung Hoa, Tích Lan, Việt Nam... đến Nhật để học Phật. Rất nhiều tổ chức Từ Thiện PG được thành lập để giúp người tị nạn và các quốc gia đang phát triển ở Á châu và Phi châu. Nhìn chung PG Nhật đang chuyển mình để hòa nhập với trào lưu mới để đem lại ánh sáng và bình yên cho mọi người.
IV.Thần đạo
1. Đặc điểm
Thần đạo, chữ Hán là 神道, nghĩa là “con đường của Thần” (kami no michi). Kami (神) là các linh hồn hay vị thần hiện diện ở khắp mọi nơi.
Không giống như các tôn giáo khác như Đạo Thiên Chúa, Đạo Hồi hay Do Thái Giáo, những tôn giáo chỉ tin vào một vị thần tối cao, Thần đạo theo lối “đa thần giáo” – nghĩa là có rất nhiều các vị thần. Kami, linh hồn, có ở mọi nơi và bất cứ cái gì hiện hữu đều có thể là kami Những vật tự nhiên như đá, cây cối, núi sông, thác nước, động vật, sấm chớp… tất cả đều có thể là kami.
Thần đạo đem đến cho những theo đạo những giá trị, chuẩn mực và cách nghĩ mà dần dần thấm sâu vào cuộc sống của người Nhật. Những tập tục thực hành Thần đạo bắt đầu từ trong những gia đình làm nông hoặc những làng chài, nơi tín ngưỡng đã có từ lâu và gắn liền với vùng đất đó. Chính vì vậy, Thần đạo chưa bao giờ vượt ra khỏi lãnh thổ Nhật Bản, và Nhật Hoàng luôn được coi là người gìn giữ đức tin vào Thần đạo. Những người theo Thần đạo ở ngoài lãnh thổ Nhật Bản hầu hết là những người sinh ra ở Nhật Bản, mặc dù đã xa quê hương nhưng vẫn gìn giữ và làm theo tôn giáo chính cống của mình. Không như Đạo Thiên chúa hay Đạo Hồi, luôn đi thao giảng và truyền bá tôn giáo của mình, Thần đạo chính tông không hề cử các đại sứ đi rao giảng đức tin hay cố gắng cải đạo người khác.
Như một quy luật, người ta không gia nhập Thần đạo theo bất cứ lễ nghi chính thức nào. Người ta sinh ra và lớn lên cùng nó, học cách tự nhận biết theo Thần đạo thì phải như thế nào, cũng giống cách họ nhìn nhận ra gia đình mình, thành phố và vùng đất mình đang sống, đất nước mình sinh ra. Trong suốt cuộc đời, dù họ có coi mình theo đạo hay không đi chăng nữa, những người này quan sát các lễ hội Thần đạo và sẽ tự mình ý thức thực hành Thần đạo.
2. Thần đạo trong cuộc sống người Nhật
• Đền thờ:
Đây là Torii, cổng đền thờ Thần. Torii có nghĩa là “điểu cư” (鳥居) – nơi trú của chim, bởi người ta quan niệm chim là sứ giả của thần, bản thân hình dạng cổng đền cũng giống cánh chim đang vươn đến bầu trời. Ngụ ý rằng người đi qua cổng vào đến sắp đến một nơi linh thiêng.
Thần đạo đề cao sự sạch sẽ – biểu tượng cho sự trong sạch, thuần khiết nên người ta trước khi làm lễ đều tắm rửa và mặc những bộ quần áo sạch sẽ, trước khi vào một ngôi đền, họ sẽ phải rửa tay và rửa miệng ở ngoài cổng đền (torii). Thường thì trên con đường đến ngôi đền luôn có suối, lạch nước nhỏ, nước từ đó được đưa đến một cái bồn nước bằng đá – tại đó người ta sẽ rửa tay và miệng.
• Thần đạo trong cuộc đời của mỗi con người:
Miyamairi 宮参り
Khi mới chào đời, đứa trẻ được tiếp nhận sự che chở và bảo hộ của các vị Thần. Khi đứa trẻ được 1 tháng tuổi, cha mẹ chúng đưa đứa trẻ đó đến ngôi đền của địa phương, phong tục này gọi là miyamari. Khi đó, đứa trẻ sẽ trở thành ujiko, kiểu như đứa trẻ sẽ theo Thần đạo và chịu sự bảo vệ của vị thần của ngôi đền đó. Theo truyền thống thì đây là nơi đầu tiên đứa trẻ ghé thăm khi mới chào đời (sau 1 tháng ở cữ). Cũng theo đó, cha mẹ thay mặt cho đứa bé trách nhiệm tín ngưỡng với ngôi đền và có thể tham gia vào các lễ hội cũng như các nghi lễ khác. Miyamairi đánh dấu sự liên hệ và gắn bó giữa con người với các vị thần, kể từ khi được sinh ra.
Lễ hội bé trai và bé gái
Theo truyền thống, ngày 3/3 hằng năm là ngày bé gái, hay là lễ hội búp bê (Hina Matsuri). Vào ngày này, các bé gái trưng bày các con búp bê lên một chiếc bục (hầu hết các búp bê được truyền lại từ đời trước trong gia đình), sau đó mời bạn bè đến ngồi chơi, ngắm búp bê và uống trà.
Ngày bé trai (Tango no Sekku) diễn ra vào ngày 5/5 hằng năm. Vào ngày này, người ta sẽ bày các bộ giáp võ sĩ samurai ngày xưa, hay các búp bê samurai ở ngoài cửa ra vào để đuổi quỷ dữ đi. Các bé trai sẽ vận những bộ trang phục truyền thống mà các samurai ngày xưa hay mặc, biểu tượng cho sức mạnh và lòng dũng cảm và treo diều cá chép, biểu tượng của sinh khí và sức mạnh.
Shichigosan
Một người mẹ đang dẫn con gái mình đến một ngôi đền trong ngày Shichigosan
Shichigosan, hay là bảy-năm-ba là ngày cầu phúc cho trẻ em. Phong tục này thường diễn ra vào tháng 11. Các bé gái lên 3 và 7, cac bé trai lên 5 vận những bộ trang phục truyền thống và đi lễ ngôi đền bảo hộ chúng. Tại đó các đứa trẻ sẽ cầu mong các vị thần sẽ bảo vệ mình và phù hộ cho chúng lớn lên khỏe mạnh.
Lễ thành nhân
Các bạn nữ trong Lễ thành nhân
Lễ thành nhân ngày xưa được tổ chức theo nghi lễ Thần đạo vào ngày rằm tháng giêng (15/1), tuy nhiên bây giờ được tổ chức vào ngày thứ 2 tuần thứ 2 tháng giêng và cũng không còn giữ những phong tục của Thần đạo xưa nữa. Lễ thành nhân là lễ mừng các thanh niên nam nữ bước sang tuổi 20 (trong năm đó), đánh dấu bước trưởng thành của họ, và có thể kết hôn mà không chịu sự kiểm soát của cha mẹ. Ở nông thôn, nam thanh niên sang tuổi 20 có vinh dự được mời làm chân khiêng kiệu trong các lễ diễu hành ở các lễ hội.
Đám cưới:
Nghi lễ san san kudo (三々九度), trong đó cô dâu và chú rể cùng uống rượu sake. Đây là một trong những nghi thức cổ nhất trong lễ cưới Thần đạo, được bắt đầu từ thế kỷ thứ 8. Bộ chén uống rượu được đưa ra gồm ba chiếc chén gọi là sakazuki có kích thước tăng dần. Chú rể sẽ bắt đầu với chiếc nhỏ nhất, nhấp 3 ngụm rượu trước khi chuyển sang chiếc lớn hơn. Cô dâu cũng làm theo tương tự. Ba lần ba là chín, nó tượng trưng cho hạnh phúc trường tồn, cầu chúc cho cặp vợ chồng sẽ mãi mãi bên nhau. Hai người sẽ thề trước thần linh và dâng một nhánh cây sakaki gọi là Tamagushi lên cho các thần.
• Đám tang luôn được giao cho các nhà sư đạo phật, vì ở Nhật cái chết dc cho là ko thanh khiết.
c. Thần đạo trong đời sống hàng ngày
• Lễ tẩy trần là một phần không thể thiếu của thần đạo. Những tòa nhà mới xây ở Nhật rất hay được các thầy cúng làm lễ ban phước trong quá trình khánh thành, thậm chí rất nhiều xe hơi được làm lễ trong quá trinh lắp ráp. Nhiều công ty Nhật ở nước ngoài cũng được làm nghi lễ này.
• Người Nhật vốn ưa sống sạch sẽ, thanh tịnh, gần gũi với thiên nhiên, sống hoà mình với thiên nhiên. Hơn nữa, trong nhà người Nhật luôn có bàn thờ để tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
• Thầy cúng ở nhật có thể là nam hoặc nữ, có thể kết hôn và sinh con. Họ có thể sống trong các miếu thờ họ quản lí.
• Sumo được coi là môn thể thao giải trí của thần. Chính vì thế, Sumo chịu ảnh hưởng rất nhiều của Thần đạo như rửa tay trước khi vào sàn đấu, vỗ tay để thu hút sự chú ý của các thần, dang rộng tay và chân để cho mọi người biết rằng mình không mang vũ khí. Trước trận đấu, võ sĩ sumo còn giậm chân thật mạnh và rắc muối quanh sàn đấu để xua đuổi tà ma. Nhiều ngôi đền cũng tổ chức các trận đấu Sumo nhân dịp năm mới.
• Ngoài ra có rất nhiều bộ phim lấy cảm hứng từ tôn giáo này
V. NHO GIÁO ( ĐẠO KHỔNG)
1. Qúa trình hình thành phát triển
• Đạo Khổng bắt đầu được truyền vào từ thế kỷ thứ 5.
• Năm 604, Thái tử Shotoku đã dùng lí tưởng Nho học để xây dựng pháp luật.
• Đến thời Nara (710 – 794) và giai đoạn đầu của thời Heian (794 – 1185) Nho học phát triển mạnh mẽ,
• Vào thời Edo, đạo Khổng ( chủ yếu là Tống Nho) được chính quyền Mạc Phủ chọn làm hệ tư tưởng chính thống của đất nước.
• Thời đại Minh Trị: Người Nhật luôn cố gắng gắn sự cai trị của Hoàng đế với giá trị đạo đức của đạo Khổng, đặc biệt là lòng chung thành và sự hiếu thảo.
Ngoài ra, người Nhật còn tiếp thu kiến giải tư tưởng của đạo Khổng theo cách riêng của mình, cải biến cho phù hợp với điều kiện đặc thù của Nhật Bản. Việc cải biến được thực hiện dựa trên năm đặc điểm sau: sự chung thành, tính lễ nghi, lòng quả cảm, sự công minh, tính cần kiệm và tính “hoà”-“hiếu”.
2. Nội dung cơ bản của Nho giáo
Theo Khổng Tử, để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo".
• Tu thân
Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức... để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.
• Tam cương ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng).
• Ngũ thường năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
• Tam tòng ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
• Tứ đức bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: công - dung - ngôn - hạnh.
• Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân: Đạt đạo. Đạt đức. Biết thi, thư, lễ, nhạc.
• Hành đạo
Sau khi tu thân, phải làm quan, làm chính trị. Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "tề gia, trị quốc, thiên hạ bình ".
Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm: Nhân trị. Chính danh
3. Ảnh hưởng của Nho giáo
• Nho giáo đã góp phần rất lớn vào việc tạo ra cái gọi là tư tưởng Nhật Bản, giúp Nhật Bản tạo ra thiết chế chính trị chặt chẽ và tạo ra một xã hội có đẳng cấp trên dưới.
• Từ sau cuộc cải cách thời Đại Hóa, Nho giáo chiếm vị trí quan trọng hơn: trở thành tư tưởng chính trị quốc gia và là kiến thức bắt buộc đối với những người tham chính
Trong Hiến pháp 17 điều (Kenpô jùshichi jô) do nhà cải cách vĩ đại Shôtoku Taishi (574 - 622) soạn thảo. Trong đó có thể thấy những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo ở khá nhiều điều.
- Điều 1 nói về Hoà và Trung Hiếu:
- Điều 4 nói về Lễ
- Điều 9 nói về Tín - Nghĩa:
• Có thể thấy lúc đầu Nho giáo không phổ biến nhanh chóng trong xã hội Nhật Bản, nó chỉ hạn chế trong một bộ phận nhất định của giới thượng lưu. Nhưng qua thời gian Nho giáo đã ảnh hưởng rất sâu đậm trong ý thức và tư tưởng, tính cách của người Nhật
• Ba Đức là:
Tiết kiệm trong việc sử dụng tài nguyên quốc gia
Tiết kiệm trong chi tiêu cho bản thân
Cần cù và sáng tạo
• Hai Nghĩa là:
Chính trong kinh doanh sản xuất
Trực trong giao dịch thương mại
VI.Cơ Đốc giáo
1.Nguồn gốc
Năm 1542, những người Âu đầu tiên từ Bồ Đào Nha đặt chân lên Kyushu ở phía Tây Nhật Bản. Hai thứ quan trọng nhất về mặt lịch sử mà họ nhập khẩu vào Nhật là thuốc súng và đạo Cơ đốc. Những nhà tư bản người Nhật ở Kyushu hoan nghênh mậu dịch với nước ngoài đặc biệt là vì những loại vũ khí mới, và từ đó liên tiếp nhận sự truyền giáo từ những thầy tu. Những cuộc truyền giáo đã thành công trong việc cải giáo một số lớn những người sống ở phía Tây nước Nhật kể cả những người trong tầng lớp lãnh đạo. Cơ Đốc giáo được truyền vào Nhật Bản từ nửa cuối thế kỷ XVI và được phát triển đến đầu thế kỷ XVII.
Tuy nhiên, chính quyền Tokugawa (1603-1867) cho rằng Cơ đốc giáo là nguy cơ đe doạ sự ổn định của trật tự vừa được thiết lập nên đã cấm nó hoạt động. Cơ đốc giáo bị cấm cho đến tận giữa thế kỷ XIX - khi Nhật Bản lại mở cửa ra thế giới bên ngoài.
Ngày nay có khoảng từ 1 đến 2 triệu người Nhật theo Cơ đốc giáo (khoảng 1% dân số Nhật Bản). Trong Cơ Đốc giáo lại chia ra làm 2 đạo riêng biệt là đạo Tin Lành và Thiên Chúa. Trong đó, tín đồ Tin Lành (981000) nhiều hơn tín đồ Thiên Chúa (457000).
2.Đặc trưng
• Thiên Chúa là đấng duy nhất và quyền năng.
• Chúng ta tin tưởng, yêu mến và hy vọng vào Thiên Chúa là Cha của chúng ta và đặt Người ở vị trí tối thượng trong cuộc sống của chúng ta.
• mọi lời nói xúc phạm, kêu cầu Danh Chúa một cách khiếm nhã, vô cớ, lấy Danh Chúa để thề gian, làm chứng cho lời dối trá dều bị coi là trọng tội.
• Sống hiếu thảo, tôn trọng sự sống,sống trong sạch,sống công bình, tôn trọng sự thật.
Như vậy, đạo này nhằm hướng con người tới những giá trị tốt đẹp nhất cuộc sống, không không chết chóc, ở đó tất cả mọi người đều bình đẳng, làm cho con người hoàn thiện hơn về mặt đạo đức. Nếu các tín đồ không làm điều tàn ác, luôn hòa thuận, yêu thương con người như chính bản thân ta, hiếu thảo ông bà, cha mẹ…thì sau khi chết đi những người đó sẽ được hưởng cuộc sống vĩnh hằng trên Thiêng Đàng, ở cạnh với Đức Chúa. ngược lại sẽ phải xuống Địa Ngục, chịu mọi hình phạt để đền tội.
3.Ảnh hưởng
• Về kinh tế: Những người truyền Cơ đốc giáo thời đó không chỉ giới thiệu Cơ đốc giáo mà còn mang đến nhiều máy móc, kỹ thuật, ấn phẩm tiên tiến của phương Tây, cũng như những điều mới lạ của các nước Đông Nam Á,Tây Nam Á. Do đó có một số sứ quân daimyo cho phép nhà truyền giáo hoạt động tại khu vực của mình để tranh thủ học hỏi kỹ thuật tiên tiến, giao dịch buôn bán, v,v…
• Trước đây, người Nhật sử dụng lịch của người Trung Quốc (Âm Lịch). Đến năm 1873, lịch phương Tây du nhập vào Nhật Bản và hiện nay vẫn được sử dụng phổ biến, chẳng hạn trên tất cả các tờ lịch, cuốn lịch thì đều ghi số năm theo lịch phương Tây.
Tuy nhiên, người Nhật vẫn áp dụng cách đếm năm theo cách của họ, đó là hệ thống đánh số các năm theo niên hiệu và số năm trị vì của Nhật Hoàng đương thời. Cách đánh số này được áp dụng rất thông dụng trong các form mẫu, giấy tờ ở khắp nơi tại Nhật.
• Kiến trúc nhà thờ
Có thể nói đây là một trong những công trình kiến trúc nổi tiếng nhất ở nhật bản, được hoàn thành vào năm 1964 bởi kiến trúc sư nổi tiếng hàng đầu tại Nhật.Một điểm độc đáo của công trình này đó là nếu nhìn từ trên xuống, đỉnh mái nhà thờ như hình ảnh một cây thánh giá làm bằng thủy tinh.
Bên trong cũng không kém phần ấn tượng: một hang động với những bức tường dốc thỉnh thoảng nổi bật với ánh sáng màu đỏ hoặc xanh.Bên cạnh đó là một dải kính biến màu dài được đặt phía sau bàn thờ mang đến sự thanh bình và ấm áp.Tại vị trí tầng hầm các khối đá chơi trong tương phản với cánh kim loại, treo xuống đất chuyển động của các bức tường. Các khu vực cổng phụ có diện tích trần nhà thấp hơn trong đó giới thiệu chính trường
Nhà thờ thánh Mary –Tokyo
Nhà thờ trên nước do Taodao Ando thiết kế
Nhà thờ ánh sáng do Taodao Ando thiết kế
Nhà thờ có kiểu dáng vô cùng đặc biệt này nằm ở Tokyo, Nhật Bản. Đây là sản phẩm của hãng thiết kế Ciel Rouge Creation vào năm 2005. Nhà thờ được tính toán thiết kế để mọi tiếng động đều vọng lại trong khoảng 2 giây. Điều này giúp tạo một cảm giác đặc biệt cho các tín đồ cũng như khách tham quan khi tới đây.
Nhà thờ Harajuku ở Nhật Bản - Nhà thờ của tương lai
• Một số tập tục của Cơ đốc giáo đã trở lên phổ biến cả với những người không theo đạo. Như việc mặc áo đầm trắng trong đám cưới, việc kỷ niệm ngày Valentine, kỷ niệm ngày Giáng Sinh.
Các cặp đôi được quyền tự do lựa chọn kiểu hôn lễ mình muốn, không nhất thiết phải phải đúng theo tôn giáo của họ. Các cặp đôi không theo đạo Thiên chúa vẫn thường tổ chức đám cưới tại các nhà thờ nhỏ ở Nhật.
Ở Nhật Bản, ngày lễ Tình yêu 14/2 là một ngày mà chỉ có phái nữ trao tặng Sô cô la cho phái nam, vợ tặng chồng, con gái tặng con trai hoặc con cái tặng Ba Mẹ của mình. Một tháng sau khi cả thế giới tặng chocolate cho nhau, họ có thêm ngày Valentine trắng. White Day sẽ là ngày con trai "đáp lễ" ( tặng quà con gái ).
những người theo đạo Thiên Chúa ở Nhật Bản lại tổ chức lễ Giáng sinh theo cách của họ. Noel ở Nhật Bản được tổ chức lại rất lớn và hoành tráng, chỉ trong vài năm gần đây Giáng sinh đã trở thành một ngày lễ đầy ý nghĩa ở Nhật Bản, đây là dịp lễ để mọi người thể hiện tình cảm của mình với những người xung quanh đặc biệt là với đồng nghiệp, đối tác của họ…
Giao thoa trong tôn giáo Nhật Bản
Có thể nói Nhật Bản là một trong những quốc gia phức tạp nhất thế giới về tôn giáo.
Ở đây cùng đồng thời tồn tại các phong tục tập quán có nguồn gốc và theo phong cách tôn giáo khác nhau:
• Người Nhật đến lễ ở các đền của đạo Shinto (Thần đạo) vào năm mới
• Đi thăm các chùa chiền của đạo phật vào mùa xuân
(chùa nổi tiếng của Nhật Bản: Pháp Long Tự và chùa Otowasan kiyomizu)
• Nhưng tổ chức tiệc tùng và tặng quà nhau vào dịp lễ Noel theo cách của đạo Thiên chúa.
• Các đám cưới thường được tổ chức theo nghi lễ của thần đạo hoặc đạo thiên chúa.
(Đám cưới được tổ chức ở Đền theo nghi thức Thần đạo)
• Nhưng thủ tục ma chay lại tiến hàng theo nghi lễ của đạo phật.
• Có những người một lúc theo hai hoặc ba đạo, do đó vào năm 1995 theo thống kê của cuốn niên giám về tôn giáo của hiệp hội văn hóa thì tín đồ của tất cả các giáo phái cộng lại là 219,83 triệu, gần gấp đôi dân số Nhật lúc bấy giờ là 120triệu.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






























