Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

Nghiên_cứu_về_khái_niệm_甘え - amae



 “Amae”- Sự phụ thuộc trong xã hội Nhật Bản
Mở đầu
Vào năm 49 thời Chiêu Hòa, bác sĩ Takeo Doi – Khoa thần kinh học đã đưa ra thuật ngữ  Amae như là một khái niệm mới để lý giải về tâm lý con người Nhật Bản. Trong định nghĩa có viết rằng“…ham muốn của một đứa bé được gần gũi mẹ…”, hơn nữa thuật ngữ Amae còn được vận dụng một cách triệt để để lý giải các hoạt động đời sống của người Nhật và cấu tạo xã hội Nhật Bản, chính vì điều này mà cuốn sách “ Giải phẫu sự phụ thuộc” của ông đã trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất. Trong tiếng Nhật, Amae là danh từ của động từ Amaeru được sử dụng rất nhiều trong đời sống hàng ngày. Trong tiếng nước ngoài, hầu như không có từ ngữ nào tương đương với Amae, và đây một khái niệm mà chỉ ở Nhật mới có. Ông cho rằng chính sự đặc biệt trong ngôn ngữ tạo nên sự đặc biệt trong tâm lý người Nhật. Trong bài báo cáo này tôi muốn trình bày khái niệm “amae” và sự xuất hiện của nó trong các mặt đời sống của Nhật Bản từ xưa đến nay

Nội dung

1.「甘え」trong xã hội Nhật Bản
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản được thế giới biết đến là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế một cách nhanh chóng. Đó được gọi là thời kì kinh tế bong bóng của Nhật. Có được thành quả này chính là do mối quan hệ xã hội đặc biệt và cấu trúc tinh thần của người Nhật. Đây là một điều rất đáng tự hào đối với người dân Nhật. Tuy nhiên cũng giống như các quốc gia phát triển khác, Nhật Bản đã rơi vào tình trạng bong bóng “nổ”, cấu trúc xã hội Nhật Bản bị phá vỡ do nền kinh tế phát triển quá nhanh. Khoảng nửa sau những năm 80 nền kinh tế Nhật Bản rơi vào tình trạng trì trệ, chính trị hỗn loạn, xã hội nảy sinh rất nhiều những vấn đề. Cùng với đó quyền lực của thần giáo và phật giáo cũng yếu đi, thay vào đó quyền lực của những đạo mới như chân lý giáo ngày càng mạnh hơn. Có thể cảm nhận rõ sự phát triển quá nhanh của nền kinh tế đã gây ảnh hưởng lên các mặt đời sống, xã hội Nhật Bản. Tôi xin phép được trình bày rõ khái niệm甘え(Amae) trong các mặt của xã hội Nhật Bản.

1.1  Mối quan hệ甘え trong xã hội Nhật Bản
Cấu tạo xã hội Nhật Bản là xã hội chiều dọc「タテ社会」, khái niệm này được biết đến rộng rãi nhờ vào cuốn “Quan hệ con người trong xã hội chiều dọc”「タテ会社の人間関係」của nhà nhân chủng học Nakae Chie (中根千枝- 1976) biểu thị nét đặc thù trong quan hệ con người trong xã hội Nhật Bản. Nakae cho rằng đơn vị cơ bản cấu thành nên xã hội Nhật chính là những nhóm có cùng chung một “nơi chốn” và quan hệ giữa người với người trong nhóm được kết nối với nhau ưu tiên theo quan hệ chiều dọc. Và tổ chức này bắt đầu hình thành nên từ mối quan hệ cơ bản nhất- quan hệ cha mẹ và con cái.
Hiện nay vẫn còn tồn tại mối quan hệ xã hội theo chiều dọc tại Nhật Bản. Đối với những người mới vào công ty, mối quan hệ với cấp trên cũng quan trọng giống như một người cha. Đôi bên dành cho nhau sự tín nhiệm, tin tưởng. Cấp dưới tin tưởng sự chỉ đạo và hỗ trợ của cấp trên, ngược lại cấp trên tín nhiệm cấp dưới vì đã giúp đỡ mình. Người đóng vai trò làm “cha” đây chính là người có trách nhiệm chăm sóc cấp dưới. Bên cạnh đó, cấp dưới luôn luôn cảm thấy biết ơn, và trung thành với cấp trên của mình. Chình vì thế, ở các công ty của Nhật, để bày tỏ sâu sắc lòng biết ơn, sự trung thành của mình đã xuất hiện những chế độ như 「年功序列」(Danh sách chế độ thâm niên)「終身雇用」( Làm việc suốt đời) với mục đích cuối cùng là cống hiến toàn bộ cho công ty. Cũng từ đó cụm từ「甘え」(sự phụ thuộc lẫn nhau) bắt đầu xuất hiện trong các công ty. Ngoài ra còn xuât hiện chế độ 稟議( Đạt đến một quyết định bởi việc sử dụng một thông tri; đạt đến một quyết định thông qua một tài liệu lưu thông tới tất cả các người làm thuê. Qua đó, có thể thấy quyết định của một tập thể phản ánh nguyện vọng, ý kiến của từng thành viên trong đó, từ đó có thế điều hòa mọi công việc trong công ty. Kết quả là tất cả các thành viên trong công ty có thể Amaeru lẫn nhau.
Kể từ sau chiến tranh, Nhật Bản rơi vào tình trang phát triển trì trệ, cấu trúc công ty cũng bắt đầu thay đổi. Hơn nữa, các mối quan hệ trong công ty và tinh thần của salary man (những người làm thuê cho các công ty) cũng bắt đầu thay đổi. Ở các nước Âu Mỹ, hoàn toàn không có chế độ làm việc suốt đời giống như Nhật Bản , vì chi phí nhân sự cho những người già mà có hiệu suất làm việc thấp tăng quá cao nên họ đã cho thôi việc. Gần đây, Nhật Bản cũng bắt đầu có xu hướng như vậy. Khi môi trường trong công ty không an toàn nữa, các salary man sẽ cảm thấy buồn, cô đơn như một đứa trẻ khi phải rời xa mẹ, không thể amaeru được nữa. Đặc điểm tính cách của Salary man Nhật Bản luôn gắn chặt với mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa cấp trên và cấp dưới. Khi tính cạnh tranh và sa thải du nhập vào trong các công ty, sự tin tưởng, tín nhiệm của cấp dưới đối với thành phần cha mẹ dần dần bị mất đi,quyền lực cũng vì thế mà yếu đi. Khi tình trạng này tiếp tục xảy ra, sự cân bằng mối quan hệ chiều dọc cũng sẽ mất đi, salary man bị áp lực chồng chất, nảy sinh bất mãn với công việc, rơi vào tình trạng không biết đặt niềm tin vào đâu. Khi cấu trúc tập thể mất đi tính đặc thù của nó thì cấu trúc này cũng sẽ bị phá vỡ. Hơn nữa, khi tinh thần của Salary Man bị suy sụp sẽ ảnh hưởng đến cả các mặt của đời sống gia đình.

1.2  「甘え」 trong gia đình
Bên cạnh là một thành viên trong các tập thể như công ty, Salaryman còn là một trong những thành viên tạo nên cấu trúc gia đình. Khi một thành viên trong gia đình đánh mất sự cân bằng trong tinh thần sẽ gây ảnh hưởng tới tất cả các thành viên còn lại. Sau thời kì phát triền kinh tế cao độ, các salaryman hầu hết cho rằng công việc quan trọng hơn gia đình. Tuy nhiên khi nền kinh tế rơi vào tình trạng trì tệ thì cách suy nghĩ ấy đã dần thay đổi. Sự thay đổi ấy ảnh hưởng lên đời sống gia đình lẫn mối quan hệ của các thành viên trong gia đình. So với ngày xưa, cấu trúc gia đình Nhật Bản được cho là đã bị phá vỡ.Có thể hiểu được lý do nó bị phá vỡ thông qua mối quan hệ Amae (phụ thuộc lẫn nhau) giữa các thành viên. Như đã nói ở trước, giống như công ty, gia đình cũng là 1 tổ chức theo chiều dọc, có các tầng lớp bên trong. Trong cấu trúc gia đình truyền thống, người nắm quyền lực lớn nhất chính là người cha, quyền lực của người cha sẽ chi phối các thành viên còn lại. Ngược lại, người cha cũng có trách nhiệm bảo vệ toàn bộ các thành viên còn lại, để mọi người có thể phụ thuộc (amaeru). Nói tóm lại, cấu trúc gia đình được bảo đảm bằng chính mối quan hệ amae giữa cha mẹ và con cái, trong đó quyền lực tập trung vào tay người cha.
Sự biến đổi trong tâm lý Salaryman và sự phát triển của xã hội đã phá vỡ đời sống gia đình. Tình trạng làm thêm giờ tại các công ty của Nhật- nói cách khác là việc ở lại cho đến tối muộn mỗi ngày tại công ty, làm việc vào cả ngày nghỉ và tập quán đi ăn uống với đồng nghiệp đã khiến các salary man không còn sống cuộc sống của một con người nữa. Đó là một cuộc sống thực sự không có ý nghĩa và không còn thời gian nghỉ ngơi. Chính vì thế rất nhiều các nhân viên trẻ tuổi tâm sự rằng tâm trạng trở nên xấu đi, suy nghĩ tiêu cực ngày càng nhiều. Họ cần một chế độ sống giống với con người hơn. Không chỉ trong đời sống mà cơ cấu xã hội cũng bị biến đổi. Tức là ý thức, chủ nghĩa tập thể như “làm việc suốt đời” đang ngày càng suy yếu. Như tôi đã trình bày trước đó,vì tập thể không thể bảo vệ được Salary man nên Salary man mang trong mình sự hoang mang của đứa trẻ bị lạc. Muốn được Amaeru vào( nương tựa, phụ thuộc) công ty nhưng lại không thể, cấu trúc tinh thần của Salary man dần dần bị phá vỡ. Mặc dù là người trụ cột của gia đình, là chồng, là cha nhưng năng lượng tinh thần lẫn năng lượng nên sử dụng trong các công việc gia đình cũng ngày càng kiệt quệ. Thêm vào đó, việc làm thêm và làm việc vào cả ngày nghỉ dẫn đến người cha khi trở về nhà thì đã khuya rồi, chỉ đủ thời gian vệ sinh cá nhân và đi ngủ. Thời gian trò chuyện,, giúp đỡ vợ trong việc nuôi dạy con cái dường như là không có. Một mình người vợ đảm nhận các công việc trong nhà và nuôi dạy con. Con cái cũng dần quen với sự vắng mặt của bố trong nhà. Cả vợ và con cái đều có thể làm tốt mọi chuyển kể cả khi không có bố.  Cứ như thế vai trò nuôi dạy con cái của bố dần mất đi, thời gian nói chuyện với vợ con cũng ít và mong muốn được chia sẻ với vợ cũng giảm xuống. Và bố trở thành người vô hình trong nhà. Kết quả là quyền lực của bố trong nhà giảm đi đáng kể, phá vỡ cấu trúc gia đình ban đầu. Rất nhiều người cho rằng quyền lực của bố bị mất đi là một trong những nguyên nhân làm phá vỡ cấu trúc gia đình. Vậy khi những đứa trẻ không có người quyên lực nhất – bố ở bên chúng sẽ phụ thuộc vào mẹ. Đối tượng amae lúc này sẽ di chuyển từ bố sang mẹ.
Hơn nữa, trong gia đình mà bố người vô hình thì quyền lực của bố sẽ yếu đi đồng thời lúc này quyền lực của mẹ đang này càng tăng lên. Theo tác giả Takeo Doi,  quan hệ Amae thuần túy nhất đó chính là mốt quan hệ cha mẹ và con cái chứ không phải đứa trẻ với một người ngoài. Vậy nên ở Nhật đây là một mối quan hệ rất lý tưởng, là thước đo cho tất cả những mối quan hệ còn lại. Kể từ sau những năm 80, vì người Nhật rất coi trọng học vấn nên vai trò cuả người mẹ được đánh giá thông qua sự thành công trong việc nuôi dạy con cái. Ngay từ khi sinh ra, người mẹ ý thức cho con cái về Amae, và những đứa trẻ con Nhật hoàn toàn phụ thuộc vào mẹ của chúng. Đồng thời, người mẹ bắt đầu có vị trí trong xã hội và cũng phụ thuộc vào con cái. Vì thế, giữa mẹ và con cái bắt đầu nảy sinh mối quan hệ Amae lẫn nhau. Vì mối quan hệ Amae với người bố thường xuyên không xuất hiện bị mất đi nên đối với đứa con lúc này, mẹ đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc đời của chúng. Sau các kì thi có thể thấy các bà mẹ có vài như là 「教育ママ」(người mẹ giáo dục), sau những năm 60, mối quan hệ giữa mẹ và con cái tập trung ở hai chữ “trường học”, cụm từIQママ」(người mẹ thông minh) cũng bắt đầu xuất hiện. Trong con mắt của mọi người, thành công của con cái trong việc học và giá trị của người mẹ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông qua những mối quan hệ phụ thuộc này có thể kết luận rằng mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái là mối quan hệ quan trọng nhất trong gia đình. Quyền lực của người mẹ đối với con cái và cuộc sống gia đình ngày càng có xu hướng tăng cao.
Tóm tại, có thể thấy cấu trúc gia đình Nhật Bản đã thay đổi,  đặc biệt người bố không còn là người có quyền lực lớn nhất. Từ sau thời kì kinh tế phát triển cao độ những năm 60, sự tồn tại của người bố trong gia đình mờ nhạt, số lượng thành viên trong gia đình cũng giảm dần, chuyển theo hướng gia đình hạt nhân. Chính vì sự thay đổi của xã hội cùng với sự vô hình của bố dẫn đến quyền lực trong tay người bố dần dần chuyển sang cho mẹ.

1.3  「甘え」 trong giáo dục
Mặc dù không phải là vấn đề mới nhưng trước kia so với các quốc gia khác, Nhật Bản từng bị phê bình về chế độ giáo dục. Chế độ giáo dục này được cho là một trong những chính sách phục hồi đất nước sau chiến tranh, đặc biệt hơn nữa khi Nhật Bản lại là một quốc gia nghèo tài nguyên, xếp vị trí thứ nhất trong danh sách các quốc gia nhập khẩu nguyên liệu nhiều nhất thế giới. Nhờ có chế độ giáo dục này, Nhật Bản đã tạo ra nguồn lao động vô cùng chăm chỉ, ngoan ngoãn và trung thành. Tinh thần học hành này vẫn được tiếp tục phát huy mạnh mẽ tại các trường học. Tuy nhiên, tính độc lập, cá nhân bị chi phối khá nhiều. Vì không nhìn ra được tầm quan trọng của tính cá nhân và tính sáng tạo nên mặc dù tiếp thu khoa học- công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nhưng Nhật Bản lại không phát minh ra được bất cứ một loại máy móc nào. Mãi cho đến gần thế kỉ 21 Nhật Bản mới nhận ra điểm yếu của mình nằm ở ngành công nghiệp kỹ thuật. Trong một thời gian dài, những người lao động Nhật đã bị phụ thuộc và hạn chế bởi chế độ giáo dục này. Sau chiến tranh, nền kinh tế của Nhật Bản phục hồi một cách nhanh chóng. Mối quan hệ Amae chính là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa người lao động và chế độ giáo dục của Nhật Bản. Để bản thân được an toàn người lao động phải amaeru – phụ thuộc vào bộ giáo dục và cũng là để thỏa mãn nguyện vọng của chính bản thân mình.

2. Tâm lý Amae

2.1 Amae trong tinh thần của người Nhật
Trong cuốn 「甘えの構造」 tác giả Takeo Doi đã giải thích những hiện tượng đặc trưng trong xã hội Nhật Bản ngày nay thông qua Tâm lý Amae. Chúng ta cùng tìm hiểu về cấu tạo tinh thần của người Nhật Bản hiện đại. Mặc dù Amae là một từ tiếng Nhật rất thông dụng như hiện nay chúng ta không còn được nghe, nhắc đến nhiều như trước. Ngay chính bản thân những người trẻ tuổi Nhật cũng không hiểu rõ về Amae bằng những người nước ngoài. Tiếp sau đây, tôi xin đề cập đến những biểu hiện của Amae trong xã hội Nhật Bản hiện đại, những khái niệm liên quan đến Amae, Honne, tatemae, nghĩa lý và nhân tình,… và sau những năm 70 thì người Nhật thay đổi suy nghĩ như thế nào về Amae

a.      Sử dụng kính ngữ
Đầu tiên chúng ta hay cùng suy nghĩ xem tâm lý Amae ảnh hưởng đến tinh thần của  người Nhật và các mối quan hệ như thế nào nhé!
Vì người Nhật lúc nào cũng mang trong mình sự kính trọng đối với đối phương nên khi giao tiếp với nhau họ thường rất hay sử dụng kính ngữ ( dùng thể lịch sự, thể tôn tính, thể khiêm nhưởng). Ngay cả khi chào hay tiếp túc với đối phương, người Nhật luôn giữ một khoảng cách Nhất định đối với đôi phương để thể hiện lòng kính trọng và sự lịch sự. Hoàn toàn không có chuyện ôm vai, bá cổ, hôn má. Sự kính trong đối với đối phương của người Nhật thể hiện trong mọi hành động, dù cho đó chỉ là một hành vi rất nhỏ, không ai chú ý. Đặc biệt việc sử dụng kính ngữ đồng nghĩa với việc giữa bản thân và đối phương đang tồn tài một mối quan hệ theo chiều dọc mà ông Tanake Chie đã chỉ ra. Theo Takeo Doi, mối quan hệ theo chiều dọc hoàn toàn thỏa mãn mối quan hệ phụ thuộc – Amae. Ông cho rằng kính ngữ được sinh ra từ sự kết hợp hoàn hảo giữa 甘えタテ. Kính ngữ được sử dụng để amaeru đối phương, tôn trọng những người bề trên và được sử dụng trong tất cả các mối quan hệ giữa người với người ( mối quan hệ cha mẹ và con cái, thầy cô và học trò, tiền bối và hậu bối, giữa vợ và chồng). Mối quan hệ theo chiều dọc được xác định khi bản thân tìm ra được vị trí của mình trong xã hội. Cứ như vậy, giữa bề trên và bề dưới phụ thuộc lẫn nhau. Kết quả là mối quan giữa những người này ngày càng trở nên khăng khít và gắn bó hơn rất nhiều. Nhật Bản không phải là quốc gia duy nhất sử dụng kính ngữ, ngoài ra còn có rất nhiều các quốc gia khác sử dụng kính ngữ. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đó.

b.     Trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái
Người Nhật có một đặc điểm khác với các quốc gia phương Tây đó là khoảng thời gian sống với bố mẹ khá lâu. Điều này đồng nghĩa việc người Nhật phụ thuộc vào bố mẹ của học trong một thời gian dài. Ngược lại, ở các nước phương Tây, điển hình là nước Mỹ ngay từ khi còn bé, đứa trẻ đã được tách ra khỏi bố mẹ của chúng và được dạy cho cách sống tự lập. Phương pháp nuôi dạy khác nhau nên tạo nên những con người khác nhau. Như đã nói ở phần trước, trẻ con Nhật được mẹ nuôi nấng và hoàn toàn phụ thuộc vào mẹ. Mặc dù đã 20 tuổi nhưng số lượng thanh niên vẫn còn sống cùng với bố mẹ khá lớn, phần còn lại, số lượng những thanh nhiên dọn ra ở riêng khá khiêm tốn. Thậm chí ngay cả thanh niên vẫn sống cùng bố mẹ và được đối xử như trẻ con. Do sống phụ thuộc vào bố mẹ từ nhỏ, chịu sự kiểm soát, chi phối của cha mẹ nên hầu hết những đứa trẻ ở Nhật đều không có sự tự do cá nhân. Nói cách khác, từ nhỏ cho đến khi trưởng thành người Nhật có mối quan hệ Amae ( phụ thuộc) với chính cha mẹ của họ. Cho dù đến ngày nay thì chúng ta vẫn có thể nhìn thấy mối quan hệ phụ thuộc này trong các gia đình ở Nhật Bản.

c.      Trong mối quan hệ giữa Sempai ( tiền bối) và Kohai (hậu bối)
Cũng giống như mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, mối quan hệ giữa Sempai và Kohai cũng là một mối quan hệ theo chiều dọc. Đặc biệt là từ khi bắt đầu vào tiểu học cho đến khi học đại học, mối quan hệ giữa tiền bối và hậu bối vẫn luôn được cho là một mối quan hệ vô cùng quan trong. Theo những sinh viên đại ở Nhật Bản, ngay từ khi bắt đầu nhập học họ đã phụ thuộc vào các tiền bối trong trường để có thể chia sẻ, tâm sự chuyện học hành và những chuyện xảy ra trong cuộc sống. Ngược lại phía tiền bối cũng phụ thuộc vào các hậu bối của mình, muốn các em phụ giúp và hợp tác với mình trong những hoạt động của trường, lớp. Vì mối quan hệ này là mối quan hệ đầu tiên được tạo nên kể từ khi bước chân vào cổng trường đại học nên họ vẫn luôn duy trì mối quan hệ này ngay cả khi đã tốt nghiệp. Và cũng giống như những mối quan hệ theo chiều dọc khác, khi tiền bối nói chuyện với hậu bối sẽ sử dụng kính ngữ, đến ghé thăm và chơi với tiền bối nhiều hơn, giúp đỡ tiền bối bằng tất cả khả năng của mình. Ngoài ra, thay vì gọi thẳng tên của tiền bối, các hậu bối vẫn sử dụng cách gọi Sempai để thể hiện sự kính trọng của mình

d.     Chủ nghĩa tập đoàn
Có thể thấy dưới con mắt của người nước ngoài, người Nhật lúc nào cũng đi theo nhóm, không đi đơn lẻ. Cả những khi đi công tác, người nhật cũng theo nhóm- 1 đoàn những salaryman. Họ là những người theo chủ nghĩa tập thể. Trong thực tế, người Nhật khi đứng trong một tập thể rất mạnh nhưng khi đứng một mình rất yếu. Việc bản thân thuộc về một tập thể nào đó giống như việc tìm được cho mình một nơi an toàn đề có thể phụ thuộc, nương tựa vào. Ý thức về quan hệ theo chiều dọc タテvà bên trong của người Nhật biểu hiện rất rõ trong xã hội hiện đại. Khi thuộc về một tập thể nào đó, mọi người phụ thuộc lẫn nhau nên sự liên kết giũa những cá nhân ngày càng chặt chẽ, không còn phải khách sáo. Từ chính là để biểu thị cho mối quan hệ này, giữa những người thuộc nhóm mình.Tuy nhiên khi tiếp xúc, ứng xử với những người ngoài, không thuộc nhóm mình thì sự khách sáo lại rất cần thiết. Người Nhật sử dụng từ để chỉ những người ngoài nhóm mình. Ngoài ra, từ còn để nói về những người trong gia đình mình. Tương tự, đối với những nhóm, tập thể mà bản thân thuộc vào như lớp học, câu lạc bộ,…Và người Nhật luôn luôn cảm nhận được sự đống nhất, hòa làm một với tập thể, coi trọng nguyện vọng của tập thể hơn là nguyện vọng của chính bản thân mình.
Một trong những tập thể tiêu biểu phải kể đến đó là câu lạc bộ của những sinh viên học đại học. Bên cạnh việc học thì việc tham gia các câu lạc bộ chiếm một phần không nhỏ trong cuộc sống của đại đa số các sinh viên Nhật Bản. Hơn nữa, vào câu lạc bộ các bạn sinh viên không chỉ hoạt động mà có thể kết bạn và chơi với nhau nên hầu hết vào các buổi tối hoặc cuối tuần, họ sẽ dành thời gian đến chơi và trò chuyện cùng những người bạn cùng câu lạc bộ. Cũng giống như gia đình và công ty dựa trên thành phần ba mẹ và con cái, cấu trúc câu lạc bộ cũng bao gồm thành phần tiền bối và hậu bối. Những thành viên mới vào – hậu bối sử dụng kính ngữ đối với những thành viện lâu năm trong câu lạc bộ - tiền bối và giúp đỡ họ trong các công việc lớn, nhỏ của câu lạc bộ. Hơn nữa, để giúp đỡ các tiền bối, các hậu bối cho dù có phải trì hoãn công việc của bản thân thì cũng cố gắng giúp tiền bối. Câu lạc bộ nói cách khác cũng là những người thuộc nhóm mình , có thể phụ thuộc lẫn nhau.

2. Sự biến đổi tâm lý Amae
Thế hệ trẻ ngày nay có suy nghĩ khá khác so với thời xưa nên cấu trúc tinh thần có sự biến đổi. Tự Amae phụ thuộc chuyển sang độc lập, tự lập với chính cuộc đời của mình. Trong những trường hợp trang trọng, họ vẫn nhìn vào mối quan hệ chiều dọc và sử dụng kính ngữ nhưng trong các mối quan hệ bạn bè đồng nghiệp thì trở nên bình đẳng. Trong các câu lạc bộ, mối quan hệ giữa sempai và kohai cũng không còn coi trọng việc sử dụng kính ngữ như trước, khá thoải mái và dễ chịu, sử dụng kính ngữ cũng ít dần. Mối quan hệ phụ thuộc vẫn còn tuy nhiên không chú trọng mặt hình thức nữa. Giữa những người bạn với nhau không cần câu nệ và chỉ cần chú ý với những người bề trên ví dụ như cha me, thầy cô,…. Mối quan hệ amae giữa những người trẻ ngày càng trở nên không cần thiết.
Mối quan hệ amae giữa người với người cũng giảm đi trong tập thể. Mặc dù tập thể vẫn được coi là trung tâm của cuộc sống, và vẫn còn khá xa với chủ nghĩa cá nhân ở phương Tây nhưng chủ nghĩa cá nhân trong các tập thể ở Nhật đang ngày càng mạnh lên. Trước kia họ làm việc hoàn toàn vì lợi ích của công ty thì bây giờ bắt đầu coi trọng mục đích của bản thân và lờ đi mục đích của tập thể. Cấu trúc của tập thể cũng khác xưa, trước kia quyết định của tập thể là nguyện vọng của các thành viên thì nay quyết định được thông qua phải có sự đồng ý của tất cả các thành viên. Ngay trong các câu lạc bộ, các thành viên sử dụng sức mạnh của tập thể để đạt được nguyện vọng của bản thân. Tổ chức mang tinh thần tập thể nhưng lại là nơi giúp cá nhân đạt được mục đích của mình.
Tuy nhiên cũng có khá nhiều người trẻ sống tách khỏi tập thể. Họ không còn hứng thú với những chuyến đi du lịch theo tour. Đặc biệt có rất nhiều những bạn nữ thích việc đi du lịch một mình. Bên cạnh đó, mặc dù vẫn cảm nhận được sự hòa làm một, đồng nhất trong tập thể nhưng khi nhìn vào những nhóm bạn trẻ đang tụ tập, có thể thấy rõ sự khác biệt trong thời trang, phong cách, sự tự do thể hiện cá tính.
Một số biến đổi khác trong tâm lý amae đó là sự ý thức về quyền lực và những người nắm quyền lực. Trong những năm gần đây, quyền lực của những người nắm quyền trong xã hội nhật bản đang dần yếu đi và cách suy nghĩ của người Nhật cũng thay đổi. Trong xã hội cũ người năm quyền luôn luôn được tôn kính bởi những người cấp dưới. Tuy nhiên trong xã hội hiện đại đã khác. Đặc biệt khi những người trẻ tuổi lên nắm quyền thì việc rất khó để sử dụng kính ngữ trong giao tiếp với họ.
Từ xưa trong xã hội Nhật Bản, con người Nhật mang nặng tư tưởng mình phải chịu sự chi phối từ người nắm quyền. Tuy nhiên bây giờ họ hoàn toàn phản đối tư tưởng này nên thứ được cho là quyền lực hoàn toàn bị phá vỡ. Những cơ quan nắm quyền mà trước kia họ kính trọng bây giờ họ đã nhìn với con mắt nghi ngờ và không coi trọng người lãnh đạo nữa. Nói cách khác suy nghĩ của người Nhật về những người nắm quyền đã thay đổi, không còn tồn tại mối quan hệ phụ thuộc nữa. Sự đổ vỡ của mối quan hệ phụ thuộc được rất nhiều người cho rằng đây chính là nguyên nhân cho rất nhiều những vấn đề đang xảy ra tại Nhật
3. Mối quan hệ phụ thuộc ở Việt Nam
Ở Việt Nam có tồn tại mối quan hệ phụ thuộc những không rõ ràng và sâu sắc như ở Nhật Bản. Hiện nay Việt Nam cũng đang dần thay đổi theo hướng đi của các nước phương Tây – độc lập, bớt phụ thuộc. Tuy nhiên đây là một quá trình dài và gian nan
- Giống: Cấu trúc xã hội Việt Nam có cấu trúc khá giống với Nhật Bản, xã hội theo chiều dọc. Cũng tồn tại những mỗi quan hệ cơ bản như cha mẹ và con cái, chính trị gia và người dân, thầy cô và học trò, tiền bối và hậu bối, cấp trên và cấp dưới,… và luôn luôn tồn tại sự phụ thuộc lẫn nhau trong các mối quan hệ này. Tuy nhiên không rõ rệt bằng Nhật Bản
- Khác: Hai điểm khác nhau cơ bản:
1. Con cái sống còn quá phụ thuộc từ khi còn bé cho đến khi trưởng thành, vẫn luôn sống trong vòng tay bao bọc của cha mẹ, khả năng độc lập, tự lập dường như là không có.
2. Ở Việt Nam không có chủ nghĩa tập thể giống như ở nhật, những chế độ như làm việc cả đời, cống hiến hết mình vì lợi ích của tập thể, làm them giờ, làm vào ngày nghỉ dường như rất ít hoặc không có. Mặc dù, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa sếp và nhân viên vẫn tồn tại. Tuy nhiên họ vẫn đặt lợi ích cá nhân lên trên, sẵn sàng chuyển chỗ làm nếu tập thể đó không trả lương xứng đáng với năng lực

Kết luận
Có thể thấy mối quan hệ phụ thuộc xuất hiện trong tất cả các lát cắt xã hội Nhật Bản, trong đời sống tinh thần của người Nhật. Cấu trúc xã hội Nhật Bản là xã hội theo chiều dọc. Bao gồm rất nhiều mối quan hệ như cha mẹ và con cái, chính trị gia và người dân, thầy cô và học trò, tiền bối và hậu bối, cấp trên và cấp dưới,… và luôn luôn tồn tại sự phụ thuộc lẫn nhau trong các mối quan hệ này. Nhờ có sự phụ thuộc này mà các mối quan hệ trở nên khăng khít và bền chặt hơn. Tuy nhiên, bản thân sự phụ thuộc cũng có những yếu điểm của nó.
Nhìn vào xã hội Nhật Bản có thể thấy mối quan hệ amae đang ngày dần yếu đi, và được cho là nguyên nhân đây ra nhiều các vấn đề đang xảy ra tại Nhật Bản, mất đi sự cân bằng xã hội.

Tài liệu tham khảo
甘えの構造―土居
“Quan hệ con người trong xã hội chiều dọc”「タテ会社の人間関係」của nhà nhân chủng học Nakae Chie (中根千枝- 1976)
The anatomy of dependence” Takeo Doi ( Giải phẫu sự phụ thuộc)
Bài nghiên cứu「甘え」の構造と「自由」・「権利」の両義性 của 柿本佳美









thelam92

0 nhận xét:

Đăng nhận xét