Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

CÁC TÔN GIÁO CHÍNH & SỰ GIAO THOA TÔN GIÁO Ở NHẬT BẢN

Thiên Chúa giáo
1. Đặc điểm
So với Thần đạo và Phật giáo, lịch sử của Thiên Chúa giáo Nhật Bản tương đối trẻ.
Năm 1549, nhà truyền giáo, linh mục Francisco de Xavier, người Tây Ban Nha sang Nhật và lần đầu tiên giới thiệu tôn giáo này. Thời đó, cả triều đình và chính quyền Muromachi đều không có sức chi phối toàn quốc nữa, các sứ quân daimyo chia đất nước Nhật Bản thành nhiều khu vực và cai trị khu vực của mình. Những người truyền giáo Thiên Chúa giáo thời đó không chỉ giới thiệu Thiên Chúa giáo mà còn mang đến nhiều máy móc, kỹ thuật, ấn phẩm tiên tiến của phương Tây cũng như những điều mới lạ của các nước Đông Nam, Tây Nam Á. Vì vậy có một số sứ quân daimyo cho phép nhà truyền giáo hoạt động tại khu vực của mình để tranh thủ học hỏi kỹ thuật tiên tiến, giao dịch buôn bán…
   

                 
Nhà thờ Chính toà ở Tokyo
Nhưng sau khi thống nhất đất nước, sứ quân Toyotomi Hideyoshi đã cấm các nhà truyền giáo Thiên Chúa giáo hoạt động trên lãnh thổ Nhật Bản vào năm 1587, khi đã có khoảng 150.000 người theo. Chính quyền Tokugawa sau đó cũng tiếp tục đẩy mạnh chính sách này, nghiêm cấm người Nhật theo Thiên Chúa giáo.
       
                 
Đại học Công giáo Sophia (Thượng Trí Đại học) ở Tokyo
Năm 1637, tại vùng Shimabara-Amakusa (tỉnh Nagasaki hiện nay) cuộc chiến Shimabara bùng nổ, 37.000 tín đồ Thiên Chúa giáo trong khu vực này chiếm thành lũy, giao chiến với quân đội chính quyền. Sau đó, chính quyền tăng cường đàn áp tín đồ Thiên Chúa giáo tới mức những người theo đạo này phải che giấu tín ngưỡng của mình.
Sau thời Minh Trị Duy Tân, chính sách cấm Thiên Chúa giáo được hủy bỏ. Nhiều nhà truyền giáo, hầu hết từ Mỹ, đã tới Nhật Bản để phổ biến Thiên Chúa giáo và đặt cơ sở tại Nhật Bản, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội.

Một tu viện nữ ở Tokyo

2. Ảnh hưởng của thiên chúa giáo đối với Nhật Bản
Sự du nhập của thiên chúa giáo vào Nhật Bản đã ảnh hưởng rất lớn đối với mỹ thuật, kiến trúc ( Nhà thờ), âm nhạc (Thánh ca), văn học (Kinh thánh, truyện thần thoại ) khoa học - kỹ thuật, cuộc sống và nhiều lĩnh vực khác. sử dụng lịch dương
Mỹ thuật và kiến trúc thể hiện chủ yếu qua kiến trúc của nhà Thờ

3. Phật giáo Nhật Bản
1. Thời gian và quá trình Phật giáo du nhập vào Nhật Bản
So với các nước khác trong khu vực, thời điểm du nhập Phật giáo vào Nhật Bản có muộn hơn. Theo các nguồn sử liệu còn lại, khoảng thế kỷ VI Phật giáo đã từng có mặt ở Nhật Bản. Việc du nhập Phật giáo vào Nhật Bản chủ yếu từ hai con đường: Trung Quốc và Triều Tiên (Phật giáo có mặt ở Triều Tiên sớm hơn ở Nhật Bản chừng 150 năm). Cuốn lịch sử Phật giáo thế giới (tập I) có dẫn lại sách Phù Tang Lược Ký cho biết: “Tháng 2 năm thứ 16 sau khi Kế Thể Thiên Hoàng ( năm thứ 3 niên hiệu Phổ Tông Vũ Đế nhà Lương năm 522) một người Hán là Tư Mã Đạt đến Nhật Bản làm nhà cỏ ở Bản Điền Nguyên, quận Cao Thị, nước Đại Hòa, bày tượng Phật lễ bái”. Cùng theo nguồn sử liệu trên thì vào tháng 10 năm 552 ( năm thứ 13 đời Khâm Minh Thiên Hoàng) có Thanh Minh Vương ở nước Bách Tề trên bán đảo Triều Tiên đã sai Cơ Thi Đạt dẫn đầu một đoàn người đến tặng 1 pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng và có cờ phướn, kinh luân”. Giới nghiên cứu ở Nhật Bản quen gọi hai con đường du nhập Phật giáo: Tư truyền và Công truyền để phân biệt Phật giáo được dân gian truyền vào và Chính phủ truyền vào.
2.  Nguyên nhân các nhà sư Nhật Bản lấy vợ
Đến thời đại Giang Hộ (Edo 1603~1867), Phật giáo trở thành quốc giáo. Tất cả mọi người dân là tín đồ của một ngôi chùa, lúc này tất cả các tự viện trở thành nơi đăng ký hộ khẩu hộ tịch, ký thác hài cốt, bài vị, bảo quản gia phổ của tín đồ. Do các công việc đó, nơi tự viện cần có rất nhiều người chuyên môn quản lý lĩnh vực này.
Khi đó, các vị Sa di nhỏ tuổi xuất gia trong các ngôi chùa ở quê hương, học tập Kinh sách cơ bản, đa số rời xa chùa mình đi đến Kinh đô học tập, nơi các trường học do các tông phái lập nên, có rất nhiều giáo sư giỏi và có nền kinh tế ổn định. Lúc này, Nhật Bản không có chiến tranh, văn hóa phát triển, một đất nước thái bình. Kết quả là tốt xấu cùng tồn tại, ở thủ đô Osaka và Đông Kinh, nơi chốn phồn hoa đô thị, các Sa di mới học Phật nhỏ tuổi bất hạnh đã bị vướng phải sự hấp dẫn của chốn hồng trần, phạm phải giới điều nhà Phật.
Bởi vì lúc này Phật giáo là quốc giáo, nên các Tỳ kheo phạm giới đều bị tự viện và pháp luật của quốc gia xử phạt. Nửa thế kỷ XIX về trước, các người đó bị đưa ra đảo Hachijo! Đây là hòn đảo ở phía nam của Kinh đô, không thể trồng lúa chỉ trồng được khoai lang, cư dân sống rất cực khổ. Các vị đó bị đày ra hòn đảo này, họ có học thức nên hay viết sách và soạn sách giáo khoa, đa số họ kết hôn với người vùng này sinh con đẻ cháu, họ làm việc cho các cơ quan nhà nước và dạy học ở các trường, cuộc sống của họ tương đối ổn định, và tất cả người dân đều đồng tình với họ.
Sau năm 1840, bởi vì người đi học phạm giới đó quá nhiều, chính phủ và Tăng đoàn không có cách nào quản thúc được nữa. Cuối cùng, sau khi học xong có người đã đi cùng với người mình kết hôn về thăm cố hương và mang theo con nhỏ nữa. Thầy của họ khi ấy vô cùng khó chịu, song cuối cùng phải thu nhận những người đệ tử bất hiếu này.
Vì công việc quản lý hộ khẩu hộ tịch của tự viện không thể đình chỉ, nên họ phải vào làm công tác này để phục vụ quê hương. Kết quả, Nhật Bản có rất nhiều hình ảnh tự viện ở quê sau chùa phơi đồ trẻ em. Tuy vậy, nhưng họ vẫn là những người làm rất tốt công tác quản lý hộ khẩu hộ tịch, phần mộ và bài vị tổ tiên.


         Đến năm 1868, trải qua một giai đoạn cách mạng, chính phủ mới của Nhật Bản cho đến hôm nay, họ đối với Phật giáo không còn nhiệt tình như trước, Phật giáo đã không còn địa vị quốc giáo. Song tuyệt đại đa số người dân Nhật Bản đều là tín đồ Phật giáo, họ đối với sự tín phụng cung kính tự viện giống như trước đây, các tôn giáo khác cố tình và đem rất nhiều tiền của để cải đạo người dân, nhưng hầu như không có kết quả gì, chỉ có truyền đạo ở các nơi dân tộc thiểu số, vì mọi người từ trí thức đến bình dân đều tin hiểu sâu vào giáo lý nhân duyên nghiệp báo, và tự viện cũng là nơi bảo hộ cho phần mộ bài vị và gia phổ của người dân.
3. Ảnh hưởng của phật giáo đối với người nhật
Ảnh hưởng của phật giáo với nghệ thuật
Rất nhiều ngôi chùa cổ có kiến trúc đặc sắc
Nghệ thuật vườn, trà đạo, samurai
Ảnh hưởng của phật giáo tới đạo đức
Tính trung thực
Ý thức cộng đồng

Ảnh hưởng của phật giáo tới lễ hội, phong tục
Lễ Vu Lan: Là lễ hội Phật giáo nhằm tỏ lòng tôn kính đối với linh hồn của tổ tiên và thân nhân đã qua đời. Nhiều gia đình trang trí bàn thờ với những vật trang trí đặc biệt và mời thầy tu về tụng kinh cho những người quá cố.
Lễ Phật Đản (Kanbutsu/Hana Matsuri): Lễ kỷ niệm ngày sinh Đức Phật Thích-ca-mầu-ni ở Nhật Bản được cử hành vào ngày 8/4. Mọi người thường đi viếng đền chùa để tỏ lòng tôn kính Đức Phật.

Lễ hội Daisairei (Izumo)

       Sau này,những điện thờ được xây dựng để lầm nơi thờ cúng.Nhiều nhà còn lập cả một giá nhỏ để thờ thần và người ta thường đặt thức ăn,hoa quả ở đó để cúng.Đạo Phật bắt nguồn từ Ấn Độ ,qua Trung Quốc và Triều Tiên đến Nhật Bản vào khoảng giữa thế kỉ thứ 6.Phật giáo ở Nhật Bản có nhiều môn phái khác nhau.Trong các ngôi chùa đều có tượng Phật butsuzo và du khách đến chùa đều thắp hương trước Phật và cũng là nơi họ thờ tổ tiên.
4. Phật Giáo Nhật Bản ngày nay:
      Theo thống kê gần đây cho thấy có khoảng 70% dân số là tín đồ Phật giáo. PGNB được chia thành mười ba tông phái chính, có 80.000 ngôi chùa, 200.000 tăng sĩ. Có trên 20 đại học, trung học và viện nghiên cứu PG ở khắp đất nước Nhật. PG tu học vẫn được duy trì mạnh mẽ nhưng có ý kiến phê bình rằng ngày nay PG chỉ còn ảnh hưởng trên mặt tri thức hơn là đi sâu vào mặt thực hành như thuở nào. Triết thuyết của PG đã trở nên khó hiểu đối với đại đa số quần chúng và chỉ có số ít quan tâm đến đời sống tôn giáo. Tăng sĩ tụng niệm nhiều hơn tăng sĩ thuyết giảng. PG lý tưởng và đời sống tâm linh dường như đang trên đà lãng quên, cho dù kinh sách PG vẫn ấn hành đều đặn và nhiều hơn trước.
         Tương lai của PG Nhật thật khó mà tiên liệu được. Ngành khoa học nghiên cứu PG đã có dấu hiệu phát triển trong những năm gần đây, nhưng nó vẫn còn những khoảng cách nhất định với tầm hiểu biết của quần chúng Phật tử. Phần lớn những nhà nghiên cứu chỉ chú trọng vào chiều sâu của triết thuyết và ngôn từ chuyên môn hơn là những ý nghĩa thật sự của nó đối với đời sống của con người.
        Tuy nhiên, có dấu hiệu lạc quan và hy vọng cho sự phục hưng và phát triển PG tại Nhật vì có nhiều tổ chức PG thành lập, đặc biệt là giới cư sĩ tại gia, để mở rộng nhiều chương trình hướng dẫn quần chúng tu học Phật. Nhiều tổ chức tôn giáo xuất hiện sau Thế chiến thứ II (1945) đều mang theo sự ảnh hưởng sâu đậm của PG. Những hoạt động truyền giáo bên ngoài Nhật Bản cũng gia tăng đáng kể, nhiều phái đoàn hoằng pháp liên tục được gởi đi hải ngoại, đặc biệt là bắc Mỹ và châu Âu. Nhiều sách báo được ấn hành trong nhiều loại ngôn ngữ khác nhau của phương Tây, các học giả Nhật Bản đã hợp tác với các nhà nghiên cứu nước ngoài để biên soạn bộ Bách Khoa Từ Điển PG (Buddhist Encyclopedias, ấn hành vào năm 1980). Toàn bộ Kinh sách của PG Tây Tạng đã được chuyển ngữ và được xuất bản bởi một Viện Nghiên Cứu tại Nhật và một bộ sưu tập tất cả những bài nghiên cứu giáo lý Phật Đà được in từ nhiều quốc gia khác nhau, đã được chuyển ngữ và in tại Nhật. PG Nhật cũng hỗ trợ cho nhiều học giả và nghiên cứu sinh từ bắc và nam Mỹ, châu Âu và châu Á, đặc biệt các nước Ấn Độ, Trung Hoa, Tích Lan, Việt Nam... đến Nhật để học Phật. Rất nhiều tổ chức Từ Thiện PG được thành lập để giúp người tị nạn và các quốc gia đang phát triển ở Á châu và Phi châu. Nhìn chung PG Nhật đang chuyển mình để hòa nhập với trào lưu mới để đem lại ánh sáng và bình yên cho mọi người.

IV.Thần đạo
1. Đặc điểm
Thần đạo, chữ Hán là 神道, nghĩa là “con đường của Thần” (kami no michi). Kami (神) là các linh hồn hay vị thần hiện diện ở khắp mọi nơi.
Không giống như các tôn giáo khác như Đạo Thiên Chúa, Đạo Hồi hay Do Thái Giáo, những tôn giáo chỉ tin vào một vị thần tối cao, Thần đạo theo lối “đa thần giáo” – nghĩa là có rất nhiều các vị thần. Kami, linh hồn, có ở mọi nơi và bất cứ cái gì hiện hữu đều có thể là kami Những vật tự nhiên như đá, cây cối, núi sông, thác nước, động vật, sấm chớp… tất cả đều có thể là kami.
Thần đạo đem đến cho những theo đạo những giá trị, chuẩn mực và cách nghĩ mà dần dần thấm sâu vào cuộc sống của người Nhật. Những tập tục thực hành Thần đạo bắt đầu từ trong những gia đình làm nông hoặc những làng chài, nơi tín ngưỡng đã có từ lâu và gắn liền với vùng đất đó. Chính vì vậy, Thần đạo chưa bao giờ vượt ra khỏi lãnh thổ Nhật Bản, và Nhật Hoàng luôn được coi là người gìn giữ đức tin vào Thần đạo. Những người theo Thần đạo ở ngoài lãnh thổ Nhật Bản hầu hết là những người sinh ra ở Nhật Bản, mặc dù đã xa quê hương nhưng vẫn gìn giữ và làm theo tôn giáo chính cống của mình. Không như Đạo Thiên chúa hay Đạo Hồi, luôn đi thao giảng và truyền bá tôn giáo của mình, Thần đạo chính tông không hề cử các đại sứ đi rao giảng đức tin hay cố gắng cải đạo người khác.
Như một quy luật, người ta không gia nhập Thần đạo theo bất cứ lễ nghi chính thức nào. Người ta sinh ra và lớn lên cùng nó, học cách tự nhận biết theo Thần đạo thì phải như thế nào, cũng giống cách họ nhìn nhận ra gia đình mình, thành phố và vùng đất mình đang sống, đất nước mình sinh ra. Trong suốt cuộc đời, dù họ có coi mình theo đạo hay không đi chăng nữa, những người này quan sát các lễ hội Thần đạo và sẽ tự mình ý thức thực hành Thần đạo.
2. Thần đạo trong cuộc sống người Nhật
Đền thờ:

Đây là Torii, cổng đền thờ Thần. Torii có nghĩa là “điểu cư” (鳥居) – nơi trú của chim, bởi người ta quan niệm chim là sứ giả của thần, bản thân hình dạng cổng đền cũng giống cánh chim đang vươn đến bầu trời. Ngụ ý rằng người đi qua cổng vào đến sắp đến một nơi linh thiêng.
Thần đạo đề cao sự sạch sẽ – biểu tượng cho sự trong sạch, thuần khiết nên người ta trước khi làm lễ đều tắm rửa và mặc những bộ quần áo sạch sẽ, trước khi vào một ngôi đền, họ sẽ phải rửa tay và rửa miệng ở ngoài cổng đền (torii). Thường thì trên con đường đến ngôi đền luôn có suối, lạch nước nhỏ, nước từ đó được đưa đến một cái bồn nước bằng đá – tại đó người ta sẽ rửa tay và miệng.




Thần đạo trong cuộc đời của mỗi con người:
Miyamairi 宮参り
Khi mới chào đời, đứa trẻ được tiếp nhận sự che chở và bảo hộ của các vị Thần. Khi đứa trẻ được 1 tháng tuổi, cha mẹ chúng đưa đứa trẻ đó đến ngôi đền của địa phương, phong tục này gọi là miyamari. Khi đó, đứa trẻ sẽ trở thành ujiko, kiểu như đứa trẻ sẽ theo Thần đạo và chịu sự bảo vệ của vị thần của ngôi đền đó. Theo truyền thống thì đây là nơi đầu tiên đứa trẻ ghé thăm khi mới chào đời (sau 1 tháng ở cữ). Cũng theo đó, cha mẹ thay mặt cho đứa bé trách nhiệm tín ngưỡng với ngôi đền và có thể tham gia vào các lễ hội cũng như các nghi lễ khác. Miyamairi đánh dấu sự liên hệ và gắn bó giữa con người với các vị thần, kể từ khi được sinh ra.
 Lễ hội bé trai và bé gái

Theo truyền thống, ngày 3/3 hằng năm là ngày bé gái, hay là lễ hội búp bê (Hina Matsuri). Vào ngày này, các bé gái trưng bày các con búp bê lên một chiếc bục (hầu hết các búp bê được truyền lại từ đời trước trong gia đình), sau đó mời bạn bè đến ngồi chơi, ngắm búp bê và uống trà.

Ngày bé trai (Tango no Sekku) diễn ra vào ngày 5/5 hằng năm. Vào ngày này, người ta sẽ bày các bộ giáp võ sĩ samurai ngày xưa, hay các búp bê samurai ở ngoài cửa ra vào để đuổi quỷ dữ đi. Các bé trai sẽ vận những bộ trang phục truyền thống mà các samurai ngày xưa hay mặc, biểu tượng cho sức mạnh và lòng dũng cảm và treo diều cá chép, biểu tượng của sinh khí và sức mạnh.
Shichigosan

Một người mẹ đang dẫn con gái mình đến một ngôi đền trong ngày Shichigosan
Shichigosan, hay là bảy-năm-ba là ngày cầu phúc cho trẻ em. Phong tục này thường diễn ra vào tháng 11. Các bé gái lên 3 và 7, cac bé trai lên 5 vận những bộ trang phục truyền thống và đi lễ ngôi đền bảo hộ chúng. Tại đó các đứa trẻ sẽ cầu mong các vị thần sẽ bảo vệ mình và phù hộ cho chúng lớn lên khỏe mạnh.

Lễ thành nhân

Các bạn nữ trong Lễ thành nhân
Lễ thành nhân ngày xưa được tổ chức theo nghi lễ Thần đạo vào ngày rằm tháng giêng (15/1), tuy nhiên bây giờ được tổ chức vào ngày thứ 2 tuần thứ 2 tháng giêng và cũng không còn giữ những phong tục của Thần đạo xưa nữa. Lễ thành nhân là lễ mừng các thanh niên nam nữ bước sang tuổi 20 (trong năm đó), đánh dấu bước trưởng thành của họ, và có thể kết hôn mà không chịu sự kiểm soát của cha mẹ. Ở nông thôn, nam thanh niên sang tuổi 20 có vinh dự được mời làm chân khiêng kiệu trong các lễ diễu hành ở các lễ hội.
Đám cưới:
Nghi lễ san san kudo (三々九度), trong đó cô dâu và chú rể cùng uống rượu sake. Đây là một trong những nghi thức cổ nhất trong lễ cưới Thần đạo, được bắt đầu từ thế kỷ thứ 8. Bộ chén uống rượu được đưa ra gồm ba chiếc chén gọi là sakazuki có kích thước tăng dần. Chú rể sẽ bắt đầu với chiếc nhỏ nhất, nhấp 3 ngụm rượu trước khi chuyển sang chiếc lớn hơn. Cô dâu cũng làm theo tương tự. Ba lần ba là chín, nó tượng trưng cho hạnh phúc trường tồn, cầu chúc cho cặp vợ chồng sẽ mãi mãi bên nhau. Hai người sẽ thề trước thần linh và dâng một nhánh cây sakaki gọi là Tamagushi lên cho các thần.

Đám tang luôn được giao cho các nhà sư đạo phật, vì ở Nhật cái chết dc cho là ko thanh khiết.
c. Thần đạo trong đời sống hàng ngày
Lễ tẩy trần là một phần không thể thiếu của thần đạo. Những tòa nhà mới xây ở Nhật rất hay được các thầy cúng làm lễ ban phước trong quá trình khánh thành, thậm chí rất nhiều xe hơi được làm lễ trong quá trinh lắp ráp. Nhiều công ty Nhật ở nước ngoài cũng được làm nghi lễ này.
Người Nhật vốn ưa sống sạch sẽ, thanh tịnh, gần gũi với thiên nhiên, sống hoà mình với thiên nhiên. Hơn nữa, trong nhà người Nhật luôn có bàn thờ để tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
Thầy cúng ở nhật có thể là nam hoặc nữ, có thể kết hôn và sinh con. Họ có thể sống trong các miếu thờ họ quản lí.
Sumo được coi là môn thể thao giải trí của thần. Chính vì thế, Sumo chịu ảnh hưởng rất nhiều của Thần đạo như rửa tay trước khi vào sàn đấu, vỗ tay để thu hút sự chú ý của các thần, dang rộng tay và chân để cho mọi người biết rằng mình không mang vũ khí. Trước trận đấu, võ sĩ sumo còn giậm chân thật mạnh và rắc muối quanh sàn đấu để xua đuổi tà ma. Nhiều ngôi đền cũng tổ chức các trận đấu Sumo nhân dịp năm mới.

Ngoài ra có rất nhiều bộ phim lấy cảm hứng từ tôn giáo này

V. NHO GIÁO ( ĐẠO KHỔNG)
1. Qúa trình hình thành phát triển
Đạo Khổng bắt đầu được truyền vào từ thế kỷ thứ 5.
Năm 604, Thái tử Shotoku đã dùng lí tưởng Nho học để xây dựng pháp luật.
Đến thời Nara (710 – 794) và giai đoạn đầu của thời Heian (794 – 1185) Nho học phát triển mạnh mẽ,
Vào thời Edo, đạo Khổng ( chủ yếu là Tống Nho) được chính quyền Mạc Phủ chọn làm hệ tư tưởng chính thống của đất nước.
Thời đại Minh Trị: Người Nhật luôn cố gắng gắn sự cai trị của Hoàng đế với giá trị đạo đức của đạo Khổng, đặc biệt là lòng chung thành và sự hiếu thảo.
 Ngoài ra, người Nhật còn tiếp thu kiến giải tư tưởng của đạo Khổng theo cách riêng của mình, cải biến cho phù hợp với điều kiện đặc thù của Nhật Bản. Việc cải biến được thực hiện dựa trên năm đặc điểm sau: sự chung thành, tính lễ nghi, lòng quả cảm, sự công minh, tính cần kiệm và tính “hoà”-“hiếu”.
      2.   Nội dung cơ bản của Nho giáo
Theo Khổng Tử, để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo".
Tu thân
Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức... để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.
Tam cương ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng).
Ngũ thường năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Tam tòng ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"
Tứ đức bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: công - dung - ngôn - hạnh.
Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân: Đạt đạo.  Đạt đức. Biết thi, thư, lễ, nhạc.
Hành đạo
Sau khi tu thân, phải làm quan, làm chính trị. Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "tề gia, trị quốc, thiên hạ bình ".
 Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm: Nhân trị. Chính danh
3.    Ảnh hưởng của Nho giáo
Nho giáo đã góp phần rất lớn vào việc tạo ra cái gọi là tư tưởng Nhật Bản, giúp Nhật Bản tạo ra thiết chế chính trị chặt chẽ và tạo ra một xã hội có đẳng cấp trên dưới.
Từ sau cuộc cải cách thời Đại Hóa, Nho giáo chiếm vị trí quan trọng hơn: trở thành tư tưởng chính trị quốc gia và là kiến thức bắt buộc đối với những người tham chính
Trong Hiến pháp 17 điều (Kenpô jùshichi jô) do nhà cải cách vĩ đại Shôtoku Taishi (574 - 622) soạn thảo. Trong đó có thể thấy những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo ở khá nhiều điều.
  - Điều 1 nói về Hoà và Trung Hiếu:
  - Điều 4 nói về Lễ
 - Điều 9 nói về Tín - Nghĩa:
Có thể thấy lúc đầu Nho giáo không phổ biến nhanh chóng trong xã hội Nhật Bản, nó chỉ hạn chế trong một bộ phận nhất định của giới thượng lưu. Nhưng qua thời gian Nho giáo đã ảnh hưởng rất sâu đậm trong ý thức và tư tưởng, tính cách của người Nhật
Ba Đức là:
   Tiết kiệm trong việc sử dụng tài nguyên quốc gia
   Tiết kiệm trong chi tiêu cho bản thân
  Cần cù và sáng tạo
Hai Nghĩa là:
  Chính trong kinh doanh sản xuất
  Trực trong giao dịch thương mại
VI.Cơ Đốc giáo
1.Nguồn gốc
 Năm 1542, những người Âu đầu tiên từ Bồ Đào Nha đặt chân lên Kyushu ở phía Tây Nhật  Bản. Hai thứ quan trọng nhất về mặt lịch sử mà họ nhập khẩu vào Nhật là thuốc súng và đạo Cơ đốc. Những nhà tư bản người Nhật ở Kyushu hoan nghênh mậu dịch với nước ngoài đặc biệt là vì những loại vũ khí mới, và từ đó liên tiếp nhận sự truyền giáo từ những thầy tu. Những cuộc truyền giáo đã thành công trong việc cải giáo một số lớn những người sống ở phía Tây nước Nhật kể cả những người trong tầng lớp lãnh đạo. Cơ Đốc giáo được truyền vào Nhật Bản từ nửa cuối thế kỷ XVI và được phát triển đến đầu thế kỷ XVII.
Tuy nhiên, chính quyền Tokugawa (1603-1867) cho rằng Cơ đốc giáo là nguy cơ đe doạ sự ổn định của trật tự vừa được thiết lập nên đã cấm nó hoạt động. Cơ đốc giáo bị cấm cho đến tận giữa thế kỷ XIX - khi Nhật Bản lại mở cửa ra thế giới bên ngoài.
Ngày nay có khoảng từ 1 đến 2 triệu người Nhật theo Cơ đốc giáo (khoảng 1% dân số Nhật Bản). Trong Cơ Đốc giáo lại chia ra làm 2 đạo riêng biệt là đạo Tin Lành và Thiên Chúa. Trong đó, tín đồ Tin Lành (981000) nhiều hơn tín đồ Thiên Chúa (457000).
2.Đặc trưng
• Thiên Chúa là đấng duy nhất và quyền năng.
• Chúng ta tin tưởng, yêu mến và hy vọng vào Thiên Chúa là Cha của chúng ta và đặt Người ở vị trí tối thượng trong cuộc sống của chúng ta.
• mọi lời nói xúc phạm, kêu cầu Danh Chúa một cách khiếm nhã, vô cớ, lấy Danh Chúa để thề gian, làm chứng cho lời dối trá dều bị coi là trọng tội.
• Sống hiếu thảo, tôn trọng sự sống,sống trong sạch,sống công bình, tôn trọng sự thật.
    Như vậy, đạo này nhằm hướng con người tới những giá trị tốt đẹp nhất cuộc sống, không không chết chóc, ở đó tất cả mọi người đều bình đẳng, làm cho con người hoàn thiện hơn về mặt đạo đức. Nếu các tín đồ không làm điều tàn ác, luôn hòa thuận, yêu thương con người như chính bản thân ta, hiếu thảo ông bà, cha mẹ…thì sau khi chết đi những người đó sẽ được hưởng cuộc sống vĩnh hằng trên Thiêng Đàng, ở cạnh với Đức Chúa. ngược lại sẽ phải xuống Địa Ngục, chịu mọi hình phạt để đền tội.
3.Ảnh hưởng
• Về kinh tế: Những người truyền Cơ đốc giáo thời đó không chỉ giới thiệu Cơ đốc giáo mà còn mang đến nhiều máy móc, kỹ thuật, ấn phẩm tiên tiến của phương Tây, cũng như những điều mới lạ của các nước Đông Nam Á,Tây Nam Á. Do đó có một số sứ quân daimyo cho phép nhà truyền giáo hoạt động tại khu vực của mình để tranh thủ học hỏi kỹ thuật tiên tiến, giao dịch buôn bán, v,v…
• Trước đây, người Nhật sử dụng lịch của người Trung Quốc (Âm Lịch). Đến năm 1873, lịch phương Tây du nhập vào Nhật Bản và hiện nay vẫn được sử dụng phổ biến, chẳng hạn trên tất cả các tờ lịch, cuốn lịch thì đều ghi số năm theo lịch phương Tây.

Tuy nhiên, người Nhật vẫn áp dụng cách đếm năm theo cách của họ, đó là hệ thống đánh số các năm theo niên hiệu và số năm trị vì của Nhật Hoàng đương thời. Cách đánh số này được áp dụng rất thông dụng trong các form mẫu, giấy tờ ở khắp nơi tại Nhật.
• Kiến trúc nhà thờ
Có thể nói đây là một trong những công trình kiến trúc nổi tiếng nhất ở nhật bản, được hoàn thành vào năm 1964 bởi kiến trúc sư nổi tiếng hàng đầu tại Nhật.Một điểm độc đáo của công trình này đó là nếu nhìn từ trên xuống, đỉnh mái nhà thờ như hình ảnh một cây thánh giá làm bằng thủy tinh.
Bên trong cũng không kém phần ấn tượng: một hang động với những bức tường dốc thỉnh thoảng nổi bật với ánh sáng màu đỏ hoặc xanh.Bên cạnh đó là một dải kính biến màu dài được đặt phía sau bàn thờ mang đến sự thanh bình và ấm áp.Tại vị trí tầng hầm các khối đá chơi trong tương phản với cánh kim loại, treo xuống đất chuyển động của các bức tường. Các khu vực cổng phụ có diện tích trần nhà thấp hơn trong đó giới thiệu chính trường

Nhà thờ thánh Mary –Tokyo


Nhà thờ trên nước do Taodao Ando thiết kế


Nhà thờ ánh sáng do Taodao Ando thiết kế
Nhà thờ có kiểu dáng vô cùng đặc biệt này nằm ở Tokyo, Nhật Bản. Đây là sản phẩm của hãng thiết kế Ciel Rouge Creation vào năm 2005. Nhà thờ được tính toán thiết kế để mọi tiếng động đều vọng lại trong khoảng 2 giây. Điều này giúp tạo một cảm giác đặc biệt cho các tín đồ cũng như khách tham quan khi tới đây.

Nhà thờ Harajuku ở Nhật Bản - Nhà thờ của tương lai
• Một số tập tục của Cơ đốc giáo đã trở lên phổ biến cả với những người không theo đạo. Như việc mặc áo đầm trắng trong đám cưới, việc kỷ niệm ngày Valentine, kỷ niệm ngày Giáng Sinh.


Các cặp đôi được quyền tự do lựa chọn kiểu hôn lễ mình muốn, không nhất thiết phải phải đúng theo tôn giáo của họ. Các cặp đôi không theo đạo Thiên chúa vẫn thường tổ chức đám cưới tại các nhà thờ nhỏ ở Nhật.

Ở Nhật Bản, ngày lễ Tình yêu 14/2 là một ngày mà chỉ có phái nữ trao tặng Sô cô la cho phái nam, vợ tặng chồng, con gái tặng con trai hoặc con cái tặng Ba Mẹ của mình. Một tháng sau khi cả thế giới tặng chocolate cho nhau, họ có thêm ngày Valentine trắng. White Day sẽ là ngày con trai "đáp lễ" ( tặng quà con gái ).





những người theo đạo Thiên Chúa ở Nhật Bản lại tổ chức lễ Giáng sinh theo cách của họ. Noel ở Nhật Bản  được tổ chức lại rất lớn và hoành tráng, chỉ trong vài năm gần đây Giáng sinh đã trở thành một ngày lễ đầy ý nghĩa ở Nhật Bản, đây là dịp lễ để mọi người thể hiện tình cảm của mình với những người xung quanh đặc biệt là với đồng nghiệp, đối tác của họ…








Giao thoa trong tôn giáo Nhật Bản
Có thể nói Nhật Bản là một trong những quốc gia phức tạp nhất thế giới về tôn giáo.
 Ở đây cùng đồng thời tồn tại các phong tục tập quán có nguồn gốc và theo phong cách tôn giáo khác nhau:
Người Nhật đến lễ ở các đền của đạo Shinto (Thần đạo) vào năm mới


Đi thăm các chùa chiền của đạo phật vào mùa xuân

(chùa nổi tiếng của Nhật Bản: Pháp Long Tự  và chùa Otowasan kiyomizu)





Nhưng tổ chức tiệc tùng và tặng quà nhau vào dịp lễ Noel theo cách của đạo Thiên chúa.


Các đám cưới thường được tổ chức theo nghi lễ của thần đạo hoặc đạo thiên chúa.


(Đám cưới được tổ chức ở Đền theo nghi thức Thần đạo)

Nhưng thủ tục ma chay lại tiến hàng theo nghi lễ của đạo phật.

Có những người một lúc theo hai hoặc ba đạo, do đó vào năm 1995 theo thống kê của cuốn niên giám về tôn giáo của hiệp hội văn hóa thì tín đồ của tất cả các giáo phái cộng lại là 219,83 triệu, gần gấp đôi dân số Nhật lúc bấy giờ là 120triệu.



thelam92

0 nhận xét:

Đăng nhận xét